Hóa học và sức khỏe

Tác hại của khói pháo

2013-12-29 15:24

   Trước đây, hàng năm, cứ đến đêm giao thừa, nhà nhà lại đốt pháo để đón chào năm mới. Sau tràng tiếng nổ đinh tai, nhức óc, trên mặt đất còn lại đầy xác pháo và các đám khói mù mịt. Tập tục này tuy có đem đến cho mọi người niềm hân hoan, phấn khỏi trong ngày lễ hội nhưng cũng tạo nên những nguy hại

        Nguyên liệu để làm pháo là thuốc nổ có thành phần chủ yếu là lưu huỳnh, bột than, muối nitrat (kali nitrat) hoặc kali clorat. Theo các tài liệu lịch sử còn lại, ở Trung Quốc người ta đã biết làm pháo từ hơn 1000 năm về trước. Khi đốt pháo, ngoài các tiếng nổ đùng đoàng, tạch tạch, cùng ánh sáng nhiều màu, nhiều vẻ của pháo hoa còn có các đám bụi khói. Bụi khói pháo tuỳ thuộc thành phần phối chế thuốc pháo mà có thể khác nhau. Ví dụ người ta có thể đưa vào thành phần thuốc pháo bột kim loại magie, nhôm, anitmon... cũng như các muối stronti nitrat, bari nitrat, natri nitrat... và bụi khói chính là oxit của các kim loại đó.

                       

         Khi đã biết thành phần chủ yếu của thuốc pháo ta có thể suy đoán các sản phẩm tạo ra sau khi đốt pháo không khó lắm. Ví dụ khi ta đốt pháo đùng hoặc pháo bánh, khi pháo nổ, thuốc nổ cháy sẽ sinh ra lượng lớn khí lưu huỳnh đioxit, nitơ đioxit, cacbon đioxit, cacbon monoxit là những khí có hại cho sức khoẻ con người và bụi của các oxit kim loại. Trong đó lưu huỳnh đioxit, nitơ đioxit là những chất có tính ăn mòn, tính axit và tính oxy hoá - khử rất mạnh. Chính các chất khí này khi hoà tan vào nước mưa sẽ tạo nên các đám mưa axit. Khi đốt quá nhiều pháo nổ mà gặp lúc không có gió, áp suất khí quyển thấp thì không có cách nào làm chobay tản đi nơi khác, sẽ kích thích mạnh đường hô hấp khiến người ta ho, viêm phế quản.

 

       Khi làm pháo, khi vận chuyển, khi đốt, trong một số bước tiến hành nếu có sơ suất có thể làm nổ một lượng lớn thuốc pháo hoặc pháo thành phẩm, có thể gây thương vong lớn. Vì vậy người ta cấm đưa thuốc pháo và pháo lên các phương tiện giao thông vận tải như máy bay, ô tô, tàu hoả, tàu thuyền... Ở nước ta, trước đây trong các ngày lễ tết, đặc biệt vào dịp tết Nguyên đán xảy ra rất nhiều trường hợp thương vong do thuốc pháo, và pháo trong khi sản xuất và đốt pháo nổ.

                         

       Ngoài ra khi đốt pháo nổ, tiếng pháo nổ đinh tai cũng gây tiếng ồn lớn, góp phần gây tiếng ồn ở các thành phố. Khi đốt pháo bất ngờ có thể làm cho trẻ em, khách bộ hành kinh hoàng, gây tác động có hại cho trật tự công cộng.

Vì các tác dụng có hại nghiêm trọng nêu ở nước ta đã có quy định cấm đốt pháo nổ và đã được đại đa số dân chúng tự giác chấp hành.

Tài liệu: 385 Câu hỏi về Hóa học và đời sống

Kali xyanua

2013-12-29 15:23

    Kali xyanua, xyanua kali là tên gọi của một loại hợp chất hóa học không màu của kali có công thức KCN. Nó có mùi giống như mùi quả hạnh nhân, có hình thức bề ngoài giống như đường và hòa tan nhiều trong nước. Là một trong số rất ít chất có khả năng tạo ra các phức chất của vàng (Au) hòa tan được trong nước, vì thế nó được sử dụng trong ngành kim hoàn để mạ hay đánh bóng bằng phương pháp hóa học. Đôi khi nó cũng được sử dụng trong ngành khai thác các mỏ vàng để tách vàng ra khỏi quặng vàng (mặc dù xyanua natri được sử dụng phổ biến hơn). Cho đến những năm thập niên 1970 nó còn được sử dụng trong thuốc diệt chuột.

    Là một chất kịch độc, gây chết người với liều lượng thấp. Chỉ cần ăn nhầm từ 300 đến 400 mg chất này thì một người khỏe mạnh có thể mất ý thức trong vòng 10 giây đến 1 phút. Sau khoảng 45 phút thì rơi vào trạng thái hôn mê và có thể tử vong sau khoảng 2 giờ nếu không có các biện pháp điều trị kịp thời. Theo phân loại trong hướng dẫn số 67/548/EEC của liên minh châu Âu thì nó là chất cực độc (T+). Giới hạn phơi nhiễm tối đa (PEL) của OSHA là 5 mg/m3. Còn theo quyết định số 3733/2002/QĐ-BYT ngày 10 tháng 10 năm 2002 của Bộ Y tế Việt Nam thì giới hạn này là 3 mg/m3 trong môi trường sản xuất.

Cơ chế ngộ độc

    Giống như các hợp chất xyanua khác, xyanua kali gây độc bằng cách ngăn chặn sự trao đổi chất của tế bào. Xyanua kali có khả năng tạo liên kết hóa học với các heme trong máu (như hemoglobin), làm cho các tế bào không lấy được ôxy và bị hủy hoại.

Các chất giải độc xyanua kali: 

  •     Sectfact Khi bị ngộ độc xyanua kali, cần sơ cứu nạn nhân bằng cách cho thở bằng khí ôxy. Trong các phân xưởng có sử dụng xyanua kali, thường có sẵn bộ cấp cứu trong trường hợp nhiễm độc, bao gồm các chất amyl nitrat, nitrít natri, xanh methylen và natri thiosulphate. 

  •     Đường glucozơ Đường glucozơ có khả năng làm chậm lại đáng kể quá trình gây độc của xyanua kali, đồng thời bảo vệ các tế bào bằng cách tạo liên kết hóa học với xyanua kali. Tuy nhiên Glucozơ không có khả năng giải độc.

Tổng hợp từ Internet (Tài liệu được thẩm định)

Những thành phần quan trọng trong sữa

2013-12-29 15:22

     Trong sữa có 5 thành phần quan trọng là đạm, béo, đường lactose, vi khoáng chất và nước. Và tỉ lệ các chất này sẽ quyết định chất lượng cũng như màu sắc, độ đặc của sữa.

        

            Sữa là một nguồn protein tuyệt vời bởi các protein trong sữa có cấu trúc phân tử lớn, không hòa tan trong nước. Có hai loại protein trong sữa là casein và whey.Các protein casein trong sữa kết hợp với một số khoáng chất trong sữa và hình thành các mixen (chứa khoảng 65% nước, còn lại là các casein và khoáng gồm can-xi, ma-giê, phốt-phát…).

            Ánh sáng phản xạ từ các mixen làm cho sữa có màu trắng.

            Protein casein sẽ đông lại, tách khỏi nước khi có axit. Casein trong sữa “túm tụm” lại với nhau và hoạt động như những bọt biển nhỏ để giữ nước. Chúng có thể chứa và giữ tới 70% nước cho mỗi mảnh cợn sữa. Axit, muối hay nhiệt độ cao có thể khiến các casein đông này bị mất nước.

            Đạm whey cũng bị đông lại dưới sức nóng, chứ không phải là axit và muối. Đây chính là bí quyết cơ bản để tạo ra sữa chua và phô-mai.

Chất béo

            Sữa cũng là một nguồn chất béo dồi dào. Chất béo nổi trên sữa nước. Có nhiều loại chất béo khác nhau trong sữa.

            Các chất béo trong sữa thường có cholesterol thấp. Trong bơ, hàm lượng chất béo cao hơn và thường giá của nó cũng cao hơn sản phẩm sữa.

            Ở sữa tươi, những hạt chất béo sẽ gắn kết với nhau, lớn đến mức nổi lên bề mặt sữa, tạo ra 2 lớp khác nhau. Để ngăn chặn điều này xảy ra, hầu hết sữa đóng hộp đều phải được xử lý chia nhỏ các phân tử chất béo để tạo sự đồng nhất.

Đường lactose

            Sữa cũng chứa một số carbon hydrate dưới dạng đường tự nhiên. Đường trong sữa được gọi là lactose và chỉ tìm thấy trong trong sữa. Lactose tạo vị hơi ngọt cho sữa. Lactose chỉ có thể được tiêu hóa bởi 1 enzyme đặc biệt do cơ thể sản xuất.

            Một số người không thể uống sữa tươi vì họ không thể tiêu hóa lactose trong sữa. Cơ thể họ thiếu enzym lactase trong hệ tiêu hóa.

            Không có lactase, lactose không thể phân chia thành glucose và galactose để có thể hấp thụ và đốt cháy thành năng lượng. Khi lactose lên men trong hệ tiêu hóa, nó sẽ sinh ra khí và 1 số axit (những người bất dung nạp lactose sẽ không thể chuyển hóa năng lượng từ lactose). Lactose sẽ bị caramen hóa khi sữa được làm nóng và sẽ biến sữa thành màu xỉn.

Vitamin và khoáng chất

            Sữa là một nguồn tuyệt vời của rất nhiều vitamin và khoáng chất. Can-xi và ma-giê giúp các mixen trong sữa ổn định. Can-xi giúp tăng cường sức khỏe cho xương và răng.

            Sữa cũng rất giàu riboflavin, một vitamin có thể bị phá hủy bởi ánh sáng, vì vậy cần bảo quản sữa trong những hộp ngăn ánh sáng.

           Chất béo trong sữa có chứa vitamin A.

            Rất nhiều sản phẩm sữa được bổ sung vitamin D.

(Tổng hợp từ Internet-đã được xác thực)

7 vi khuẩn gây hại có trong thực phẩm

2013-12-29 15:20

1. E.coli

        Vi khuẩn Escherichia coli sống trong ruột người và động vật như bò, cừu và dê. Nó còn được tìm thấy trong thịt bò chưa nấu chín, sữa và nước trái cây chưa xử lý, nước ô nhiễm.

            Khi nhiễm khuẩn E.coli, người bệnh sẽ bị tiêu chảy nghiêm trọng, bụng đau quặn và ói từ 5 đến 10 ngày. Chủng E.coli O157:H7 có thể khiến người bệnh xuất huyết tiêu hóa, suy thận, thậm chí tử vong.

2. Campylobacter

        Campylobacter jejuni là vi khuẩn có hình dạng xoắn ốc, thường có ở thịt gà, bò.

            Phần lớn người nhiễm khuẩn này sẽ tiêu chảy, vọp bẻ, đau dạ dày và sốt 2 đến 5 ngày. Nặng hơn, có thể tiêu chảy ra máu kèm buồn nôn, ói. Các triệu chứng này kéo dài khoảng 1 tuần.

            Khuẩn Campylobacter rất nguy hiểm đối với trẻ nhỏ, người già và những người bị suy giảm miễn dịch.

3. Listeria

        Listeria monocytogenes là vi khuẩn được tìm thấy trong đất, nước, thịt sống, thức ăn đã chế biến và sữa chưa tiệt trùng. Không giống như những loại khác, vi khuẩn Listeria monocytogenes có thể sống và phát triển trong môi trường lạnh (ví dụ trong tủ lạnh).

            Triệu chứng khi bị nhiễm khuẩn này bao gồm sốt, cảm lạnh, đau đầu, rối loạn tiêu hóa và ói. Ở nhiều người, bệnh có thể nghiêm trọng hơn và đe dọa tính mạng.

            Phụ nữ có thai, bào thai, người trên 50 tuổi và người bị suy giảm miễn dịch rất dễ bị nhiễm khuẩn này.

4. Vibrio

            Vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus sống trong nước mặn, thường có trong hải sản. Người thích ăn hải sản sống, chưa nấu chín sẽ dễ bị nhiễm khuẩn này.

        Trong vòng 24 giờ, người nhiễm khuẩn sẽ có triệu chứng tiêu chảy nước, bụng đau quặn, buồn nôn, ói, sốt và cảm lạnh.

5. Toxoplasma

        Khi vi khuẩn Toxoplasma phát triển thành bệnh Toxoplasmosis, sẽ xuất hiện triệu chứng đau đầu, nhức mỏi cơ thể và sốt.

        Khuẩn này cũng có thể gây ra tình trạng nghiêm trọng hơn như tổn thương não, mắt và các cơ quan khác ở phụ nữ mang thai và người bị suy yếu hệ miễn dịch.

        Phần lớn người nhiễm Toxoplasmosis là do tiếp xúc với phân mèo có chứa loại vi khuẩn này, ăn phải thịt ôi thiu, chưa nấu chín, thịt sống, uống nước nhiễm khuẩn.

6. Salmonella

        Salmonella là một nhóm các vi khuẩn thường có ở thịt gia cầm sống, trứng, thịt bò, rau quả, trái cây chưa rửa sạch.

        Triệu chứng khi nhiễm bệnh: sốt, tiêu chảy, bụng đau quặn, đau đầu, kéo dài 4 đến 7 ngày.

        Phần lớn trường hợp nhiễm khuẩn này sẽ lành bệnh sau khi điều trị, nhưng có thể nghiêm trọng hơn ở người già, trẻ sơ sinh và người mắc bệnh mãn tính. Nếu không được điều trị đúng cách, Salmonella có thể lan rộng đến các cơ quan trong cơ thể, gây tử vong.

7. Norovirus

       Norovirus được tìm thấy trong thực thẩm hay thức uống nhiễm bẩn. Chúng có thể sống trên các bề mặt và lây lan qua tiếp xúc với người nhiễm.

        Triệu chứng nhiễm khuẩn có thể kéo dài trong vài ngày gồm buồn nôn, co thắt dạ dày, ói, tiêu chảy, đau đầu, sốt và mệt mỏi.

        Phần lớn người nhiễm khuẩn sẽ hết bệnh. Tuy nhiên, những người không uống đủ nước để thay thế lượng nước đã mất do ói và tiêu chảy thì cần phải nhập viện điều trị.

       Để phòng tránh các loại vi khuẩn trên, cần phải rửa sạch, nấu chín thức ăn. Tránh uống sữa chưa tiệt trùng, chùi rửa dụng cụ nhà bếp sau khi sử dụng, không để thịt lâu hơn 3 đến 5 ngày trong tủ lạnh, rửa tay sạch bằng xà phòng khi chế biến thức ăn, tránh uống nước chưa xử lý, phải tránh tiếp xúc với phân mèo khi mang thai, diệt vi trùng trên các bề mặt trong nhà bếp và phòng tắm.

(Tổng hợp từ Internet-đã được xác thực)

Ăn nhiều hoa quả giảm nguy cơ phình mạch

2013-12-29 15:19

 Một nghiên cứu lớn, kéo dài cho thấy ăn nhiều hoa quả có thể giảm nguy cơ bị phình động mạch chủ bụng nguy hiểm.

Ăn nhiều hoa quả giảm nguy cơ phình mạch
 

        Trong nghiên cứu này, các tác giả đã phân tích dữ liệu từ hơn 80.000 người, tuổi từ 46 đến 84, ở Thụy Điển được theo dõi trong 13 năm. Trong thời gian này, gần 1.100 người trong số đó bị phình động mạch chủ bụng, gồm 222 người bị vỡ phình mạch.

        Nhóm nghiên cứu thấy rằng những người ăn 2 phần hoa quả/ngày (không tính nước ép) giảm 25% nguy cơ bị phình động mạch chủ bụng và giảm 43% nguy cơ bị vỡ chỗ phình so với những người ăn chưa đầy 1 phần hoa quả/ngày.

        Những người ăn 2 phần hoa quả/ngày cũng giảm được 31% nguy cơ bị phình động mạch chủ bụng và giảm 39% nguy cơ bị vỡ chỗ phình so với những người không ăn hoa quả.    

        Nhóm nghiên cứu nói nồng độ cao các chất chống ôxy hóa trong hoa quả có thể bảo vệ chống phình động mạch chủ bụng bằng cách giảm viêm.            

        Nghiên cứu được đăng trên tạp chí Circulation.

(Tổng hợp từ Internet-đã được xác thực)

Gạo nếp cẩm - siêu thực phẩm chống ung thư

2013-12-29 15:19

 Loại gạo cổ truyền của người châu Á hóa ra là một loại "siêu thực phẩm" cực tốt, các nhà khoa học phương Tây thừa nhận.

            Nhóm nghiên cứu từ Đại học bang Louisiana (Mỹ) đã phân tích mẫu cám lấy từ gạo nếp cẩm trồng ở miền nam nước này. Họ phát hiện thấy chúng chứa hàm lượng rất cao chất chống oxi hóa anthocyanin - một chất có tiềm năng chống lại bệnh ung thư, tim mạch và nhiều bệnh khác.

          Anthocyanin tạo ra màu đen sẫm cho nhiều loại rau, quả như việt quất, ớt...Các nhà nghiên cứu cho rằng chất chống oxi hóa màu đen này giúp bảo vệ thành mạch và ngăn ngừa sự phá hủy ADN - yếu tố dẫn đến ung thư.

        "Chỉ một thìa gạo nếp cẩm cũng chứa chất chống oxi hóa tốt cho sức khỏe nhiều hơn cả lượng tìm thấy trong một thìa việt quất - loại quả được đề cao nhờ tác dụng này - đồng thời lại chứa ít đường hơn, nhiều chất xơ và vitamin E hơn", nhà khoa học thực phẩm Zhimin Xu cho biết.

        Gạo nếp cẩm thậm chí còn tốt hơn cả gạo lứt (lúa chỉ mới tách sơ vỏ), Xu phỏng đoán.

        Theo UPI, gạo nếp cẩm có màu đen sẫm, khi nấu lên sẽ chuyển thành màu tím sẫm. Nó chứa nhiều khoáng chất và một vài loại amino axit.

        Nhóm nghiên cứu công bố phát hiện tại cuộc gặp của Hiệp hội hóa học quốc gia Mỹ đang diễn ra tại Boston.

Tài liệu: Báo Hóa học và ứng dụng 

<< 9 | 10 | 11 | 12 | 13 >>


Có thể bạn quan tâm