Lịch sử Hóa học
Lịch sử các học thuyết dung dịch
2013-12-30 09:13THỜI KỲ GIẢ KIM THUẬT
Các nhà giả kim thuật kiếm tìm thứ dung môi vạn năng mà theo họ có thể hoà tan tất cả mọi chất.
Thế kỉ XVI-XVII
sự hoà tan là quá trình cơ học. Các hạt dung môi thâm nhập vào các lỗ nhỏ của chất tan và tách các hạt ra khỏi chất tan. Sau đó, đến lượt mình, những hạt này rơi vào các lỗ nhỏ của dung môi. Dung dịch được tạo thành bằng cách đó. Thuyết hạt, theo quan điểm hiện đại thì có vẻ rất ngây thơ, nhưng nếu đem so sánh với quan niệm của các nhà giả kim thuật thì lại là tiên tiến. Thuyết này đã tìm kiếm các nguyên nhân thật của quá trình hoà tan trong cấu tạo của chất taPie Gacxenđi (1592 - 1655), Rôbecđơ Bôilơ (1617 - 1691), Nhicôlai Lameri (1645 - 1715) v.v... phát triển lí thuyết hạt về dung dịch. Theo thuyết này, n và dung môi với những tính chất huyền diệu của thứ gọi là dung môi vạn năng.
Giêocgơ stan (1657 - 1734) là người đầu tiên chú ý đến tính đặc thù của dung môi và tìm cách giải thích. Theo ý kiến của ông, chất lỏng làm dung môi bao gồm những hạt, về cấu tạo có sự phù hợp nhất định với các lỗ nhỏ của chất hoà tan. Bởi vậy, một chất lỏng chỉ có thể hoà tan một số chất nhất định.
Năm 1704
Ixac Niutơn (1642 - 1727) tạo điểm khởi đầu cho học thuyết cơ học về dung dịch. Trong cuốn sách "Bàn về bản chất của axit" ông đã trình bày nội dung cơ bản học thuyết của mình như sáu : quá trình hoà tan thực hiện được là nhờ tác dụng của lực hút giữa các hạt dung môi và chất tan ; lực này tương tự như lực vạn vật hấp dẫn. Theo Niutơn, các tiểu phân nhỏ bé nhất của các chất chịu tác dụng của lực hút ; lực hút này tỉ lệ thuận với khối lượng và tỉ tệ nghịch với bình phương khoảng cách.
Năm 1745
Mikhain Vaxilievich Lômônôxôp (1711 - 1765) công bố công trình "Bàn luận về tác dụng của dung môi trong hoá học". Học thuyết về dung dịch là một trong những đối tượng nghiên cứu cơ bản của Lômônôxôp trong lĩnh vực hoá lí.
Năm 1748
Ápbat Giăng Ăngtoan Nôle (1700 - 1770), giáo sư vật lí Pháp lần đầu tiên quan sát thấy hiện tượng thẩm thấu, ông đã nghiên cứu quá trình sôi của chất lỏng. Để ngăn ngừa hiện tượng thâm nhập của không khí vào một bình có chứa rượu, ông đã buộc kín miệng bình bằng một màng tế bào động vật, rồi đem nhúng bình này vào một bình khác có chứa đầy nước. Sau vài giờ đồng hồ, ông nhận thấy màng ngăn trên miệng bình bị căng phồng lên. ông giải thích hiện tượng này như sau : màng động vật có tính chất thẩm thấu đối với rượu dễ hơn là đối với nước.
Năm 1752 -1756
Lôrnônôxôp phát triển học thuyết hoá lí của mình về dung dịch.Ông là người đầu tiên chú ý đến ảnh hưởng của nhiệt độ đến độ tan của các chất, ông tiến hành nhiều thí nghiệm hoà tan các chất ở nhiệt độ khác nhau.
Năm 1780 - 1790
Tôvi Egôrôvic Lôvixơ (1757 - 1804) nghiên cứu sự kết tinh của muối và các chất khác từ dung dịch.
Năm 1800
Nhà bác học Anh Uyliam Nicônxông (1753 - 1815), Antoni Caciai (1768 - 1840) và Uyliam Crucsan (1745 - 1810) công bố các kết quả thí nghiệm về phân huỷ nước bằng dòng điện, tạo thành hiđro và oxi. Đây là phản ứng hoá học đầu tiên trong dung dịch được thực hiện do tác dụng của dòng điện.
Năm 1800
I.Ritecsơ (1776 - 1810) tiến hành điện phân dung dịch một số muối. Trong quá trình đó ông thấy kim loại tách ra ở cực âm và oxi giải phóng ở cực dương.
Năm 1802
Vaxili Vlađimirovic Petrôp (1761 - 1834) đã chế tạo thành công một thiết bị dòng điện một chiều có cường độ lớn. Đó là một khối pin điện bao gồm 4200 vòng đồng và kẽm. Nhờ thiết bị này, ông đã tiến hành điện phân nhiều dung dịch muối cùng một lúc trong các bình khác nhau.
Năm 1803
William Henri (1775 - 1836) phát biểu định luật về độ hoà tan của chất khí ở những áp suất khác nhau. Trong bức thư gửi cho Giôn Đantôn, Henri thông báo về phát minh quan trọng của mình như sau : lượng khí bị hấp thụ bởi nước tăng tỉ lệ thuận với áp suất của khí trên bề mặt dung dịch. Rôbectơ Bôilơ trước đây cũng đã nghiên cứu về độ tan của chất khí trong chất lòng, ông nhấn mạnh sự khác nhau giữa hỗn hợp không khí - nước và hỗn hợp muối - nước. Giôzep Prixli (1733 - 1804) cũng đã chú ý đến độ hoà tan của chất khí trong chất lỏng. Nhưng người đầu tiên nghiên cứu hiện tượng này một cách định lượng là Henri.
Năm 1803 - 1807
lonxơ lacôp Beczêliuyt (1779 - 1848) và Vinhemmơ Hizingec (1766 - 1852) khi nghiên cứu sự điện phân các muối khác nhau, axit sunfuric và các chất khác, đã xác định rằng : kim loại và hiđro luôn thoát ra ở điện cực âm. Họ đã chứng minh rằng kim loại là sản phẩm của quá trình điện phân, không phải như trước đấy người ta tưởng nó được tạo thành do tương tác của muối với hiđro được giải phóng trên điện cực.
Năm 1803
Cuốn sách nhan đề "Thí nghiệm về thống kê hoá học" của Clôt Lui Bectôlê (1748 - 1822) được xuất bản. Trong đó ông đưa ra quan niệm là giữa các hợp chất hoá học và dung dịch không có ranh giới rõ rệt. Theo ý kiến của ông, hoà tan là một quá trình hoá học xảy ra do ái lực hoá học giữa dung môi và chất tan. Bectôlê đã cố gắng chứng minh rằng sự khác nhau giữa hợp chất hoá học và dung dịch chỉ là ở mức độ khác nhau về ái lực hoá học. Có nhiều nhà hoá học đã ủng hộ học thuyết của Bectôlê, trong số đó có Hecman Hecxơ (1802 - 1850), Tômat Grêm (1805 - 1869). Còn Beczêliuyt thì không đồng tình với thuyết này ; ông đề xuất lí thuyết điện hoá của riêng mình về dung dịch.
Năm 1805
Teođo Grôguxơ (1785 - 1822) tiến hành giải thích cơ chế về tính dẫn điện của dung dịch, ông đã trình bày quan điểm của mình trong bài viết : "Nhận xét về sự phân huỷ nước và sự hoà tan các chất dưới tác dụng của dòng điện trong nước”.
Năm 1806
Hemfri Đêvi (1778 - 1829) xác định tỉ lệ thể tích của oxi và hiđro thu được khi điện phân nước, và giải thích về sự hình thành của các chất khí đó. Theo ông: oxi và hiđro được giải phóng từ những phần khác nhau của nước. Điều khẳng định này gẩn đúng với thực tế và dần dần thay thế cho quan niệm của Ritec cho rằng nước là đơn chất.
Năm 1807
Giôn Đantôn (1766 - 1844) đã áp dụng định luật Henri để biểu thị sự phụ thuộc nồng độ của các khí trong dung dịch vào áp suất của hỗn hợp khí. ông đưa ra khái niệm "áp suất riêng phần".
Năm 1819
Giôzep Lui Gay Luyxăc (1778 - 1850) tiến hành nghiên cứu bằng thực nghiệm về độ hoà tan của chất rắn trong chất lỏng, ông chỉ ra rằng : các dung dịch của một chất điều chế ở cùng một nhiệt độ có cùng thành phần, thì thành phần đó vẫn giữ nguyên không thay đổi theo thời gian, với điều kiện nhiệt độ ổn định.
Năm 1833 - 1834
Maicơn Farađây (1791 - 1867) phát minh hai định luật cơ bản về điện phân : 1.Lượng chất giải phóng trong quá trình điện phân trên điện cực tỉ lệ thuận với lượng điện đi qua dung dịch. 2.Cùng một lượng điện sẽ giải phóng những lượng chất khác nhau, tuỳ thuộc vào đương lượng của chất.
Farađây đưa ra các dành từ: điện cực, chất điện li, sự điện phân, anôt, catôt, ion, anión, catión. Theo tiếng Hi Lạp thì "ion" có nghĩa là "chu du", còn các tiếp đầu ngữ "ana" và “cata" có nghĩà là "bên trên" và "bên dưới".
Năm 1836
Nhà vật lí và hoá học Anh Giôn R.Frederic Đanien (1790 - 1845) phát minh ra pin, được áp dụng rất rộng rãi trong điện hoá học.
Năm 1838 -1840
Nhà vật lí Nga Bôrixơ Xêmênôvich lacôbi (1801 - 1874) đã nghiên cứu mở đầu cho kĩ thuật đúc điện. Bằng quá trình điện phân, ông tiến hành kết tủa kim loại trên bề mặt của các vật khác nhau, với mục đích tạo ra những bản sao kim loại chính xác. Đó là ứng dụng đầu tiên của điện hoá học trong thực tế.
Năm 1838
Giôn Frederic Đanien nhận thấy rằng khi cho dòng điện đi qua dung dịch, thì các ion khác nhau chuyển động với tốc độ khác nhau.
Năm 1853
Nhà hoá học Đức Vinhemmơ Hitôptơ (1824 - 1914) nghiên cứu cơ chế truyền dòng điện qua dung dịch bởi các hạt chất tan.
Năm 1857
Runđônfơ Clauzius (1822 - 1888) phủ nhận quan điểm phổ biến thời đó cho rằng các ion tạo thành trong điện trường, giữa các điện cực. Bằng thực nghiệm, ông đã chứng minh rằng dòng điện chỉ có tác dụng định hướng các . Ion về điện cực.
Năm 1858
Nhà hoá học Nga Đ.N. Abaxep (1829 - 1880) đã mở đầu nghiên cứu về tính hoà tan lẫn nhau của các chất lỏng.
Năm 1865
Đimitri Ivanôvich Menđêlêep (1834 - 1907) công bố luận án tiến sĩ với đề tài : "Về sự kết hợp của rượu với nước". Công trình này của ông mở đẩu cho các nghiên cứu cơ bản về dung dịch.
Năm 1875 - 1883
Fridric Vinhemmơ Cônraosơ (1849 - 19,10) đã công bố nội dung các nghiên cứu về tính dẫn điện của dung dịch muối trong nước, bazơ và axit với nồng độ khác nhau. Những nghiên cứu này tạo cơ sở cho sự ra đời của thuyết điện li. Cônraosơ đã xây dựng phương pháp đo độ dẫn điện của dung dịch mà ngày nay vẫn đang được sử dụng.
Năm 1877
Vinhemmơ Pfecfero (1845 - 1920) tiến hành định lượng áp suất thẩm thấu của các dung dịch,
Trong cuốn "Cơ sở hoá học" xuất bản lần thứ ba, Đ.l. Menđêlêep đưa ra khái niệm mới về "dung dịch" : "Dung dịch… là hợp chất với nước...". Sau này Menđêlêep phát triển khái niệm này thành thuyết hiđrat về dung dịch.
Năm 1878 -1887
Frăngxoa Mari Raun (1830 - 1901) nghiên cứu sự phụ thuộc độ giảm nhiệt độ đông đặc của dung dịch vào bản chất của dung môi, nổng độ dung dịch và các yếu tố khác, ông xác định rằng : giữa độ giảm áp suất hơi trên dung dịch, độ giảm nhiệt độ đông đặc và khối lượng phân tử chất tan có mối quan hệ chặt chẽ. Raun nghiên cứu sô' lượng lớn dung dịch các chất hữu cơ trong nước, đo nhiệt độ đông đặc của các dung dịch rượu khác nhau v.v... Trên cơ sở các kết quả thu được, Raun đã đi đến kết luận (1884) rằng : nhiệt độ đông đặc của dung dịch không phụ thuộc vào đặc tính chất tan, mà chỉ phụ thuộc vào tĩ lệ giữa số tiểu phân chất tan và số tiểu phân dung môi. Raun là người đầu tiên chỉ ra khả năng sử dụng mối quan hệ phụ thuộc đó để xác định khối lượng phân tử của chất tan.
Năm 1881 - 1883
Nhà vật lí và hoá học Thụy Điển Xvante Arêniuyt (1859 - 1927), trong phòng thí nghiêm của Viện Hàn lâm Khoa học stôckhôm, bắt đầu nghiên cứu về độ dẫn điện của các dung dịch loãng trong nước với mục đích xây dựng phương pháp xác định khối lượng phân tử của chất tanẳ Kết quả là công trình nghiên cứu đẩu tiên của Arêniuyt được công bố và trở thành cơ sở cho sự phát triển thuyết điện li.
NĂm 1884
Arêniuyt bảo vệ luận án tiến sĩ về thuyết điện li, trong đó ông trình bày nội dung thuyết do ông đề xướng, đồng thời mô tả kết quả nghiên cứu về 45 chất điện li.
Những kết luận do ông đúc rút và công bố làm cho người đương thời bất ngờ, lúc đầu không được thừa nhận. Vinhemmơ Oxtwan (1853 - 1932) là người đầu tiển chú ý đến tính đúng đắn về kết quả nghiên cứu của Arêniuyt. ông đã viết : "Suốt đời tôi sẽ không quên ngày mà tôi bắt gặp cái tên Xvante Arêniuyt. Đó là một ngày tháng sáu năm 1884, khi trong tay tôi cầm bài báo của Xvante. Đọc bài báo rất khó hiểu, và tôi đã phải qua một đêm đầy căng thẳng với những giấc mơ tồi tệ. Những điều ông mô tả trong bài viết khác hẳn với những điều thông thường đã biết, lúc đầu khiến tôi hiểu sai lệch và cho rằng đó là những điều vô lí. Nhưng sau đó, những tính toán của nhà khoa học rất trẻ, tác giả của bài báo, đã thu hút tôi: từ tính toán, tác giả thu được những kết quả như những kết quả do chính tôi đã đạt được, nhưng bằng cách khác. Cuối cùng thì tôi hiểu ra rằng : một vấn đề lớn về sự giống nhau giữa axỉt và bazơ - vấn đề mà trong thâm tâm tôi định dành cả đời mình để nghiên cứu, giờ đã được giải quyết".
Năm1885
Lacôp Henđrỉc Van Hôp (1852 - 1911) công bố công trình "Cân bằng hoá học trong hệ khí và trong các dung dịch loãng". ông đã xác định được các định luật cho dung dịch loặng tương tự như các định luật Bôilơ và Gay Luyxăc đối với chất khí:
1. Ở nhiệt độ không đổi, áp suất thẩm thấu tỉ lệ thuận vói nồng độ (giống định luật Bôilơ - Mariôt).
2. Áp suất thẩm thấu tỉ lệ thuận với nhiệt độ tuyệt đối (giống định luật Gay Luyxăc).
3. Những lượng chất tan chứa số phân tử bằng nhau tạo ra áp suất như nhau ỏ cùng điều kiện.
Trong công trình này, Van Hôp phát triển lí thuyết vật lí về dung dịch.
NĂm 1887
Trong thư gửi Van Hôp, Arêniuyt thông báo kết quả vô cùng quan trọng của ông về mối quan hệ giữa sự sai khác về áp suất thẩm thấu của dung dịch và độ điện li.
Trong thư gửi ôlivec Lôgia, Arêniuyt lần đầu tiên thông báo về thuyết điện li. Cũng trong năm đó, người ta cho đăng .tải công trình của Arêniuyt : "Về sự điện li của các chất hoà tan trong nước". Trong đó một lí thuyết mới đã ra đời: 'Trong dung dịch, các phân tử chất điện li bị phân tích ra thành các ion mang điện”.
Đ.l.Menđêlêep công bố công trình : "Nghiên cứu về các dung dịch nước, theo trọng lựợng riêng". Trong bài viết ông nhận xét: không có ranh giới đáng kể giữa sự hoà tan và các hiện tượng thuần tuý hoá học. Trong công trình này. ông đã trình bày các cơ sở của thuyết hiđrat về dung dịch.
Năm 1888 - 1890
Hecman Vantec Nerst (1864 - 1941) xác định sự phụ thuộc giữa độ linh động của ion trong dung dịch và hệ số'khuếch tán của chất điện li.
Năm 1891
Morixơ Leplan chỉ ra rằng : để bắt đầu thực hiện sự điện phân đòi hỏi phải có điện thế chính xác nhất định, tuỳ thuộc vào bản chất của chất điện II.
Leplan là người đầu tiên gọi thế đó là thế phân huỷ. Ngay từ 1838, Maicơn Faradây cũng cho rằng phải tồn tại thế đó.
Ivan Alêchxêvich Caplucôp (1857 - 1942) bảo vệ luận án tiến sĩ,với nội dung phát triển tiếp tục thuyết điện li. Đặc biệt quan trọng là trong luận án ông đưa ra các khái niệm về lực phân li của dung môi và sự hiđrat hoá ion. Caplucôp đã làm cho thuyết Arênỉuyt và thuyết hiđrat của Menđêlêep xích lại gần nhau.
Năm 1923 - 1925
Pitee Đơbai và Ecst Hucken xây dựng các cơ sở của học thuyết về các chất điện li mạnh.
Ngày nay, việc nghiên cứu về dung dịch rất phong phú và đa dạng. Người ta đã có hiểu biết sâu sắc về bản chất lực tương tác giữa các tiểu phân dung môi và chất tan ; hiệu ứng gây ra do quà trình hoà tan các chất vào nhau... Biết sử dụng quy luật biến đổi tính chất của dung dịch vào mục đích khoa học và đời sống.
(Tài liệu: Sự phát triển của hóa học)
Vì sao có thể dự đoán nguyên tố chưa tìm thấy?
2013-12-30 09:16Vào năm 1886 nhà hoá học Đức Winkler tìm được nguyên tố hoá học mới là gecmani (Ge). Điều kì lạ là 15 năm trước đó, tức năm 1871, lúc mà chưa ai nghĩ ra có thể có nguyên tố gecmani, nhà hoá học Nga Mendeleev đã nói một cách cính xác về việc có một nguyên tố hoá học có những đặc điểm như là nguyên tố gecmani mà Winkler tìm ra. Bảng so sánh sau đây về tính chất nguyên tố gecmani giữa dự đoán của Mendeleev và dữ liệu thực nghiệm do Winkler tìm ra cho ta thấy các dự đoán của Mendeleev chính xác cỡ nào?
|
Tính chất
|
Dự đoán của Mendeleev
|
Dữ liệu thực nghiệm
|
|
Khối lượng nguyên tử
|
72
|
72,5
|
|
Tỷ trọng
|
5,5
|
5,47
|
|
Tính tan
|
Là kim loại không tan trong HCl
|
Không tan trong HCl
|
|
Công thức oxit
|
MO2
|
GeO2
|
|
Tỷ trọng oxit
|
4,7
|
4,7
|
|
|
Oxit của nó dễ bị khử thành kim loại
|
Trong dòng khí hidro, GeO2 bị khử thành Ge kim loại.
|
|
Tính kiềm
|
Hidroxit của nguyên tố có tính kiềm yếu
|
Ge(OH)4 là kiềm yếu
|
|
Tính chất của hợp chất clorua
|
Clorua của nó có công thức là MCl4 , dễ bay hơi, nhiệt độ sôi là 90 độ, tỷ trọng 1,9. |
GeCl4 là chất lỏng, sôi ở 83 độ, tỷ trọng là 1,887.
|
|
Nguyên tố
|
Hidro
|
Liti
|
Bo
|
Cacbon
|
Beri
|
Nitơ
|
Oxi
|
Flo
|
|
Khối lượng nguyên tử
|
1
|
7
|
11
|
12
|
13,5
|
14
|
16
|
19
|
|
Hoá trị
|
+1
|
+1
|
+3
|
+4 |
+2
|
+4 |
+6 |
+7 |
(Tài liệu: Chìa khóa vàng hóa học)
Tranh luận về sự sống - Hóa học hữu cơ
2013-12-30 09:19Sau khi xác định được bản chất sự cháy lại nảy sinh tranh luận về bản chất sự sống cũng như khác biệt căn bản giữa chất vô cơ và hữu cơ khởi từ việc ông Friedrich Wöhler tình cờ tổng hợp được u rê từ chất vô cơ năm 1828. Trước đó chưa có một chất hữu cơ nào được tổng hợp từ nguồn hữu cơ, nên phát hiện này đã dẫn đến sự ra đời của hóa học hữu cơ và đến cuối thế kỉ 19 các nhà khoa học đã tổng hợp thành công hàng trăm hợp chất hữu cơ, như màu nhuộm, aspirin.
(Sưu tầm từ internet)
Nguồn gốc tên gọi của các nguyên tố
2013-12-30 09:20Mỗi lần học Hóa học có bao giờ bạn thắc mắc vì sao các nguyên tố Hóa học có tên gọi như vậy? Vì sao lại gọi nguyên tố ở ô thứ 18 trong bảng hệ thống tuần hoàn là Argon? Vì sao lại gọi nguyên tố ở ô thứ 101 là Mendelevi?... Vì vậy hiểu rõ lai lịch và hàm ý của tên gọi các nguyên tố hóa học không chỉ lý thú mà từ đó còn biết một số tính chất nào đó, tình trạng tồn tại và lịch sử phát hiện của các nguyên tố.
Sau đây là ý nghĩa của tên gọi một số nguyên tố hóa học
|
STT
|
Tên | Kí hiệu | Năm | Người tìm ra | Nguồn gốc tên gọi |
|---|---|---|---|---|---|
|
1
|
Hiđro
|
H
|
1776
|
Henry Cavendish
|
Từ tiếng Hi Lạp Hydro có nghĩa là tạo nước.
|
|
2
|
Heli
|
He
|
1868
|
Pierre-Jules-Cesar Janssen
|
Từ tiếng Hilạp helios có nghĩa là mặt trời. Nó được tìm ra bởi kính quang phổ khi nó quay quanh sắc cầu mặt trời.
|
|
3
|
Liti
|
Li
|
1818
|
Johan August Arfvedson
|
Từ tiếng Latinh lithos nghĩa là đá vì họ nghĩa là liti chỉ tồn tạo trong khoáng vật khi lần đầu tiên tìm thấy nó.
|
|
4
|
Beri
|
Be
|
1798
|
Nicholas-Louis Vauquelin
|
Từ tiếng Hi lạp 'beryl' nghĩa là đá quý vì nó được tìm thấy lần đầu trong đá quý.
|
|
5
|
Bo
|
B
|
1808
|
Humphry Davy
|
Từ tiếng Ả rập buraq nghĩa là trắng.
|
|
6
|
Cacbon
|
C
|
-
|
Biết từ cổ xưa
|
Từ tiếng Latinh carbo nghĩa là than đá. Năm 1797, Smithson Tennant chỉ ra kim cương là cacbon tinh khiết.
|
|
7
|
Nitơ
|
N
|
1772
|
Daniel Rutherford
|
Từ tiếng Hi lạp nitrium nghĩa là sinh ra diêm tiêu.
|
|
8
|
Oxi
|
O
|
1774
|
Joseph Priestly
|
Từ tiếng Hi lạp oxys nghĩa là sinh ra axit.
|
|
9
|
Flo
|
F
|
1886
|
Ferdinand Frederic, Henri Moissan
|
Từ tiếng Latinh có nghĩa là chất trợ dung. Vì quặng fluorspars được dùng làm chất trợ dung trong luyện kim vì nó có nhiệt độ nóng chảy thấp.
|
|
10
|
Neon
|
Ne
|
1898
|
Sir William Ramsay , Morris M. Travers
|
Từ tiếng Hilạp nghĩa là mới
|
|
11
|
Natri
|
Na
|
1807
|
Sir Humphry Davy
|
Từ tiếng Anh là soda và từ tiếng Latin sodanum nghĩa là trị đau đầu. |
|
12
|
Magie
|
Mg
|
1808
|
Sir Humphry Davy | Từ Magnesia một miền ở Thessalia ở miền bắc Greece . |
|
13
|
Nhôm
|
Al
|
1825
|
Hans Christian Oersted | Từ tiếng Latin alum và alumen. |
|
14
|
Silic
|
Si
|
1924
|
Jons Jacob Berzelius | Từ tiếng Latin silex and silicisnghĩa là viên đá lửa. |
|
15
|
Photpho
|
P
|
1669
|
Hennig Brand | Từ tiếng Hy Lạp phosphorus nghĩa là mang lại ánh sáng. |
|
16
|
Lưu huỳnh
|
S
|
-
|
Biết từ cổ xưa
|
Từ tiếng Latin sulfurium and the Sanskrit sulveri |
|
17
|
Clo
|
Cl
|
1774
|
Carl Wilhelm Scheele | Từ tiếng Hy Lạp chloros nghĩa là xanh nhạt, từ màu của nguyên tố. |
|
18
|
Argon
|
Ar
|
1894
|
Sir William Ramsay, Lord Raleigh | Từ tiếng Hy Lạp argos nghĩa là khí lười vì nó không kết hợp với nguyên tố nào. |
|
19
|
Kali
|
K
|
1807
|
Sir Humphry Davy
|
Từ tiếng Anh potash vì nó được tìm thấy trong kiềm ăn da(KOH). kí hiệu hoá học lấy từ tiếng Latin kalium và tiếng Ả rập qali for alkali |
|
20
|
Canxi
|
Ca
|
1808
|
Sir Humphry Davy | Từ tiếng Latin calx nghĩa là vôi vì nó được tìm thấy trong vôi. |
|
21
|
Scandi
|
Sc
|
1879
|
Lars Fredrik Nilson | Từ tiếng Latin scandia hoặcScandanavia là nơi nó được tìm thấy. |
|
22
|
Titan
|
Ti
|
1791
|
The Reverend William Gregor | Từ tiếng Latin titans, một vị thần. |
|
23
|
Vanadi
|
V
|
1801
1830 |
Andres Manuel del Rio y Fernandez/Nils Gabriel Sefstrom | Từ Scandanavian Freyja Vanadis, vị thần tình yêu và sắc đẹp. |
|
24
|
Crom
|
Cr
|
1797
|
Louis-Nicholas Vauquelin | Từ tiếng Hy lạp chroma nghĩa là màu sắc. |
|
25
|
Mangan
|
Mn
|
1774
|
Johan Gottlieb Gahn | Từ tiếng Latin magnes nghĩa là nam châm vì oxit của nó có từ tính. |
|
26
|
Sắt
|
Fe
|
-
|
Biết từ xưa | Từ tiếng Anglo Saxon iron. Kí hiệu từ tiếng Latin ferrum nghĩa là chắc, bền. |
|
27
|
Coban
|
Co
|
1739
|
Georg Brandt | Từ tiếng Đức. Kobold tên của bọn quỷ Cobon xảo quyệt trong các chuyện thần thoại. |
|
28
|
Niken
|
Ni
|
1751
|
Axel Fredrik Cronstedt | Tên của con lùn lão Nick trong những truyền thuyết của thợ mỏ. |
|
29
|
Đồng
|
Cu
|
-
|
Biết từ xưa | Từ tiếng Latin cuprum là 'Cyprus' nơi mà người La Mã lấy được đồng. |
|
30
|
Kẽm
|
Zn
|
-
|
Biết từ xưa | Từ tiếng Đức : zink |
|
31
|
Gali
|
Ga
|
1875
|
Paul-Emile Lecoq de Boisbaudran | Tên Latinh cổ của nước Pháp. |
|
32
|
Germani
|
Ge
|
1886
|
Clemens Winkler | Tên của nước Đức |
|
33
|
Asen
|
As
|
-
|
Biết từ xưa | Từ tiếng Latin arsenicum và từ tiếng Hy lạp arsenikos nghĩa là quặng màu vàng, |
|
34
|
Selen
|
Se
|
1817
|
Jons Jacob Berzelius | Từ tiếng Hy lạp Selene (Mặt trăng) |
|
35
|
Brôm
|
Br
|
1826
|
Antoine-Jerome Balard | Từ tiếng Hy lạp bromos là hôi thối. |
|
36
|
Kripton
|
Kr
|
1898
|
Sir William Ramsay, Morris M. Travers | Từ tiếng Hy lạp kryptos là ẩn náu. |
|
37
|
Rubidi
|
Rb
|
1861
|
Robert Bunsen, Gustav Kirchoff | Từ tiếng Latin rubidus là đỏ thẫm. |
|
38
|
Stronti
|
Sr
|
1792
|
Thomas Charles Hope | Từ tên Strontian một tỉnh ở Scotland nơi mà khoáng của Stronti được tìm thấy. |
|
39
|
Ytri
|
Y
|
1794
|
Johan Gadolin | Từ tên một làng ở Thuỵ Điển Ytterby nơi mà quặng gadolinite (ytterbite) được tìm thấy. |
|
40
|
Ziconi
|
Zr
|
1789
|
Martin Heinrich Klaproth | Từ tiếng Ả rập zargun nghĩa là giống như vàng. |
|
41
|
Niobi
|
Nb
|
1801
|
Charles Hatchett | Từ tiếng Hy lạp Niobe, con gái của Tantalusdo họ người ta nghĩ niobium và tantalum là những nguyên tố tương tự nhau. |
|
42
|
Molipđen
|
Mo
|
1789
|
Carl Welhelm Scheele | Từ tiếng Hy lạp molybdos nghĩa là chì. |
|
43
|
Tecnexi
|
Tc
|
1937
|
Carlo Perrier, Emilio Segre | Từ tiếng Hy lạp technetos nghĩa là nhân tạo. |
|
44
|
Ruteni
|
Ru
|
1844
|
Karl Karlovich Klaus | Từ tiếng latin ruthenia tên cũ của nước Russia |
|
45
|
Rođi
|
Rh
|
1803
|
William Hyde Wollaston | Từ tiếng Hy lạp rhodon nghĩa là hoa hồng vì màu của hoa hồng giống màu muối của nó. |
|
46
|
Paladi
|
Pd
|
1803
|
William Hyde Wollaston | Từ tên một hành tinh nhỏ thứ hai trong hệ Mặt Trời , Pallus, đặt theo tên của Nữ thần thông thái và nghệ thuật , Pallas Athene, tên của nguyên tố đặt sau khi tìm ra nguyên tố một năm sau khi tìm ra hành tinh này. |
|
47
|
Bạc
|
Ag
|
-
|
Bíêt từ xưa | Từ tên Anglo-Saxon seofor và siolfur. Kí hiệu hoá học lấy từ tên Latinh argentum và Sanskrit argunas nghĩa là sáng. |
|
48
|
Cadimi
|
Cd
|
1817
|
Friedrich Strohmeyer | Từ tên Hy Lạp kadmeia nghĩa là calamine, kẽm cacbonat vì nó được tìm thấy trong quặng kẽm cacbonat trong tự nhiên. |
|
49
|
Inđi
|
In
|
1863
|
Ferdinand Reich, Hieronymus Theodor Richter | Từ tên indigo nghĩa là phổ màu xanh indigo của nó. |
|
50
|
Thiếc
|
Sn
|
-
|
Bíêt từ xưa | Từ tên Anglo-Saxon tin. Kí hiệu hoá học từ tên Latin stannum |
|
51
|
Stibi
|
Sb
|
-
|
Bíêt từ xưa | Từ tên Hy lạp anti and monos nghĩa là không cô đơn vì nó được tìm thấy trong nhiều hợp chất Kí hiệu hoá học Sb từ tên stibium. |
|
52
|
Telu
|
Te
|
1782
|
Franz Joseph Muller von Reichenstein | Từ tên Latin Tellus, nữ thần La Mã của Trái đất |
|
53
|
Iôd
|
I
|
1811
|
Barnard Courtois | Từ tên Hy lạp ioeides nghĩa là màu tím. |
|
54
|
Xenon
|
Xe
|
1898
|
Sir William Ramsay, Morris M. Travers | Từ tên Hy lạp xenon nghĩa là lạ. |
|
55
|
Cesi
|
Cs
|
1860
|
Robert Wilhelm Bunsen, Gustav Robert Kirchoff | Từ tên Latin caesius nghĩa là xanh da trời. |
|
56
|
Bari
|
Ba
|
1808
|
Sir Humphry Davy | Từ tên Hy lạp barys nghĩa là nặng. |
|
57
|
Lantan
|
La
|
1839
|
Carl Gustaf Mosander | Từ tên Hy lạp lanthanein nghĩa là trốn thoát vì nó ẩn náu trong mỏ ceriand và nó rất khó bị tách ra. |
|
58
|
Ceri
|
Ce
|
1803
|
Jons Jacob Berzelius, Wilhelm von Hisinger, Martin Heinrich Klaproth | Từ tên Ceres đặt sau tên Nữ thần Nông nghiệp của người La Mã. |
|
59
|
Praseodym
|
Pr
|
1885
|
Carl F. Auer von Welsbach | Từ tên Hy lạp prasios nghĩa là xanh và didymos nghĩa là song sinh vì muôis màu xanh nó tạo thành . Carl F. Auer von Welsbach tách praseodymi và neodymium từ một mẫu didymi. |
|
60
|
Neodym
|
Nd
|
1885
|
Carl F. Auer von Welsbach | Từ tên Hy lạp neos nghĩa là mới' và 'didymos' nghĩa là song sinh ấu khi Carl Auer von Welsbach tách didymium thành nhứng nguyên tố mới, một trong những nguyên tố đó ông gọi là neodymi. |
|
61
|
Prometi
|
Pm
|
1944
|
Jacob A. Marinsky, Lawrence E. Glendenin, Charles D. Coryell | Từ tên Prometheus người cướp lửa từ thiên đàng và trao nó cho loài người. |
|
62
|
Samari
|
Sm
|
1878
|
Marc Delafontaine | Từ tên khoáng Samarskite trong đó nó được tìm thấy và nó được đặt tên sau của Colonel von Samarski, một viên chức mỏ ở Nga. |
|
63
|
Europi
|
Eu
|
1896
|
Eugene-Antole Demarcay | Từ tên châu Âu Europe. Ông Demarcay cô lập được europi vào năm 1901. |
|
64
|
Gadolini
|
Gd
|
1880
|
Jean Charles Galissard de Marignac | Từ tên khoáng gadolinite có chứa nó và nó đựơc đặt theo tên của nó Johan Gadolin |
|
65
|
Terbi
|
Tb
|
1843
|
Carl Gustaf Mosander | Từ tên làng Ytterby, Thuỵ Điển nơi mà khoáng ytterbite được tìm thấy. |
|
66
|
Dysprosi
|
Dy
|
1886
|
Paul-Emile Lecoq de Boisbaudran | Từ tên Hy lạp dysprositos nghĩa là khó để lấy được bởi vì rất khó để tách tách dysprosium từ khoáng holmium. |
|
67
|
Holmi
|
Ho
|
1879
|
Per Theodor Cleve | Từ tên Latin holmia nghĩa là Stockholm, hoặc có lẽ từ tên Holmberg người đầu tiên cô lập được nó. |
|
68
|
Erbi
|
Er
|
1843
|
Carl Gustaf Mosander | Từ tên tỉnh Ytterby, Thuỵ Điển nơi mà khoáng gadolinite được lần đầu khai thác. |
|
69
|
Thuli
|
Tm
|
1879
|
Per Theodor Cleve | Từ tên Thule, tên đầu tiên của Scandanavia |
|
70
|
Yterrbi
|
Yb
|
1878
|
Jean Charles Galissard de Marignac | Từ tên làng Ytterby, Thuỵ Điển nơi mà khoáng ytterbite được tìm thấy. |
|
71
|
Luteni
|
Lu
|
1907
|
Georges Urbain | Từ tiếng Latin lutetia tên Latin của thành phố Paris. |
|
72
|
Hafini
|
Hf
|
1923
|
Dirk Coster, Charles de Hevesy | Từ tiếng Latin hafnia nghĩa là Copenhagen nơi mà nguyên tố được phát hiện. |
|
73
|
Tanta
|
Ta
|
1802
|
Anders Gustaf Ekeberg | Từ tên Hy lạp tantalos. |
|
74
|
Vôn fram
|
W
|
1783
|
Don Juan Jose and Don Fausto d'Elhuyar | Từ tiếng Thuỵ Điển tung stennghĩa là đã nặng. Kí hiệu hoá học từ tiếng Đức wolfram. |
|
75
|
Reni
|
re
|
1925
|
Ida Tacke-Noddack, Walter Noddack, Otto Carl Berg | Từ tiếng Latin rhenus. |
|
76
|
Osmi
|
Os
|
1803
|
Smithson Tennant | Từ tên Hy lạp . |
|
77
|
Iridi
|
Ir
|
1803
|
Smithson Tennant | Từ tiếng Latin Iris, Nữ Thần Cầu Vồng Hy Lạp vì nó có màu sắc khác nhau trong các dung dịch muối của nó. |
|
78
|
Platin
|
Pt
|
1735
|
Antonio de Ulloa | Từ tiếng Tây Ban Nha platina nghĩa là bạc. |
|
79
|
Vàng
|
Au
|
-
|
Biết từ xưa | Lấy từ tiếng La Tinh aurum nghĩa là bình minh. |
|
80
|
Thuỷ ngân
|
Hg
|
-
|
Biết từ xưa | Từ tên vị thần La Mã Mercury. Kí hiệu lấy từ tiếng Hy Lạp hydragyrium nghĩa là nước bạc. |
|
81
|
Tali
|
Tl
|
1861
|
Sir William Crookes | Từ tên Hy lạp thallos nghĩa là tia xanh lục vì nó có màu sáng xanh trong phổ của nó. |
|
82
|
Chì
|
Pb
|
-
|
Biết từ xưa | Từ tiếng Anglo Saxon "lead". Kí hiệu của nguyên tố lấy từ tiếng Latin plumbum nghĩa là chì. |
|
83
|
Bitmut
|
Bi
|
1753
|
Claude-Francois Geoffroy the Younger | Từ tiếng Đức nghĩa là khối màu trắng, vì oxit nó màu trắng. |
|
84
|
Poloni
|
Po
|
1898
|
Pierre and Marie Curie | Từ tên Poland, tên quê hương cũ của Marie Sklodowska Curie |
|
85
|
Astatin
|
At
|
1940
|
Dale R. Carson, K.R. MacKenzie, Emilio Segre | Từ tên Hy lạp astatos nghĩa là không bền vì nó là một nguyên tố không bền. |
|
86
|
Radon
|
Rn
|
1900
|
Friedrich Ernst Dorn | Nó được gọi bắt nguồn từ tên radi vì nó là sản phẩm phân rã của radi . |
|
87
|
Franxi
|
Fr
|
1939
|
Marguerite Catherine Perey | Từ tên France, quốc gia mà nó được phát hiện ra lần đầu tiên. |
|
88
|
Radi
|
Ra
|
1898
|
Marie Sklodowska Curie, Pierre Curie | Từ tên Latin radius nghĩa là tia hoặc dòng. |
|
89
|
Actini
|
Ac
|
1899
|
Andre-Louis Debierne | Từ tên Hy lạp aktis or akinis nghĩa là tia hoặc dòng vì nó là một nguồn phóng xạ alpha tốt. |
|
90
|
Thori
|
Th
|
1828
|
Jons Jacob Berzelius | Từ tênThor, thần sấm của người Scandanavi |
|
91
|
Protactini
|
Pa
|
1913
|
Kasimir Fajans, O.H. Gohring | Từ tên Hy lạp protos nghĩa là đầu tiên. |
|
92
|
Urani
|
U
|
1789
|
Martin Heinrich Klaproth | Tên hành tinh Uranus , Uranus được phát hiện năm 1781. |
|
93
|
Neptuni
|
Np
|
1940
|
Edwin M. McMillan, Philip H. Abelson | Tên hành tinh Neptune,hành tinh này kế tiếp trong hệ Mặt trời sau hành tinh Uranus, nguyên tố này sau nguyên tố urani nên có tên gọi như vậy. |
|
94
|
Plutoni
|
Pu
|
1941
|
Glenn T. Seaborg, Joseph W. Kennedy, Edward M. McMillan, Arthur C. Wohl | Tên hành tinh Pluto, hành tinh này kế tiếp trong hệ Mặt trời sau hành tinh Neptuni, nguyên tố này sau nguyên tố neptuni nên có tên gọi như vậy. |
|
95
|
Americi
|
Am
|
1944
|
Glenn T. Seaborg, Ralph A. James, Leon O. Morgan, Albert Ghiorso | Từ sự tương đồng với nguyên tố Europi ở vị trí thứ sáu thuộc họ Lantan. |
|
96
|
Curi
|
Cm
|
1944
|
Glenn T. Seaborg, Ralph A. James, Albert Ghiorso | Tên nhà bác học'Pierre và Marie Curie' người tìm ra radium và polonium . |
|
97
|
Berkeli
|
Bk
|
1949
|
Glenn T. Seaborg, Stanley G. Thompson, Albert Ghiorso | Từ tên Berkeley, California, nơi tổng hợp ra nó. |
|
98
|
Californi
|
Cf
|
1950
|
Stanley G. Thompson, Glenn T. Seaborg, Kenneth Street, Jr., Albert Ghiorso | Bang và trường đại học California nơi tìm ra nguyên tố. |
|
99
|
Einstein
|
Es
|
1952
|
Albert Ghiorso | Tên nhà bác học 'Albert Einstein'. |
|
100
|
Fecmi
|
Fm
|
1952
|
Albert Ghiorso | Tên nhà bác học Enrico Fermi |
|
101
|
Mendeleev
|
md
|
1955
|
Stanley G. Thompson, Glenn T. Seaborg, Barnard G. Harvey, Gregory R. Choppin, Albert Ghiorso | Tên nhà bác học Dimitri Mendeleev |
|
102
|
Nobel
|
No
|
1958
|
Albert Ghiorso, Glenn T. Seaborg, Torbjorn Sikkeland, John R. Walton | Tên nhà bác học Alfred Nobel |
|
103
|
Laurenxi
|
Lr
|
1961
|
Albert Ghiorso, Torbjorn Sikkeland, Almon E. Larsh, Robert M. Latimer | Tên nhà bác học Ernest O. Lawrence |
|
104
|
Rutherford
|
RE
|
1964
1969 |
Những nhà khoa học Nga ở Dubna / Albert Ghiorso | Tên nhà bác học Ernest Rutherford |
|
105
|
Dubni
|
Db
|
1967
1970 |
Những nhà khoa học Nga ở phòng thí ngiệm Dubna / Lawrence Berkeley | Từ tên Dubna , một trung tâm nghiên cứu cuả Nga |
|
106
|
Seaborg
|
Sg
|
1974
|
Albert Ghiorso | Tên nhà bác học Glenn Theodore Seaborg |
|
107
|
Bohr
|
Bh
|
1981
|
Centre for Heavy-Ion Research , Germany | Tên nhà bác học Niels Bohr |
|
108
|
Hassi
|
Hs
|
1984
|
Peter Armbruster, Gottfried Munzenber | Từ tên Latin hassia. |
|
109
|
Meitneri
|
Mt
|
1980
|
Peter Armbruster, Gottfried Munzenber | Từ tên Lise Meitner người phát hiện ra protactini |
|
110
|
Darmstadti
|
Ds
|
1994
|
Peter Armbruster, Gottfried Munzenber | Từ Darmstadt tên địa điểm đặt trung tâm nghiên cứu. |
|
111
|
|
-
|
1994
|
Toàn thể các nhà khoa học ở trung tâm nghiên cứu Heavy Ion Research Centre, Darmstadt, Đức |
Chưa đặt tên.
|
|
112
|
|
-
|
1996
|
Toàn thể các nhà khoa học ở trung tâm nghiên cứu Heavy Ion Research Centre, Darmstadt, Đức |
Chưa đặt tên.
|
|
114
|
|
-
|
1998
|
Toàn thể các nhà khoa học ở viện nghiên cứu hạt nhân the Joint Institute for Nuclear Research, Dubna, Nga |
Chưa đặt tên.
|
|
116
|
|
-
|
2000
|
Toàn thể các nhà khoa học ở viện nghiên cứu hạt nhân the Joint Institute for Nuclear Research, Dubna, Nga |
Chưa đặt tên.
|
(Tài liệu: truyện kể 109 nguyên tố hóa học)
Lịch sử Hóa học
2013-12-30 09:20![]()
(Tài liệu: Sự phát triển của hóa học)
Từ lửa đến Nguyên tử luận
2013-12-30 09:21
Nguồn gốc của nguyên tử luận được coi là từ Hy Lạp và Ấn Độ cổ. Theo quyển De Rerum Natura (Nguồn gốc vạn vật) của triết gia La Mã Lucretius viết năm 50 trước Công nguyên thì nguyên tử luận Hy Lạp ra đời khoảng năm 440 trước Công nguyên khi hai triết gia Democritus và Leucippus cho rằng "atom" (nguyên tử) là thành phần cơ bản nhất không thể chia nhỏ của vật chất. Cùng thời này ở Ấn Độ, triết gia Kanada cũng phát biểu tương tự trong tác phẩm Vaisheshika. Tuy vậy, phát biểu của Kanada cũng như Democritus chỉ có ý nghĩa triết học do thiếu dữ liệu thực nghiệm và cũng do thiếu chứng minh một cách khoa học nên ý niệm tồn tại nguyên tử rất dễ bị bác bỏ. Tại Hy Lạp Aristotle đã phản bác sự tồn tại của nguyên tử, còn trường phái Vaisheshika ở Ấn Độ cũng bị phản đối một thời gian dài
(Tài liệu: Hóa học dành cho người yêu thích)

