Hóa dược

Tìm ra cách xác định vi khuẩn kháng thuốc trong vài phút

2013-12-29 19:07

    Các nhà nghiên cứu của Mỹ gần đây đã tìm ra một kỹ thuật mới mà nó có thể sẽ giúp loài người chúng ta trong cuộc chiến chống lại bệnh tật từ các “siêu khuẩn”.Siêu khuẩn thực chất là những chủng vi khuẩn gây bệnh cho con người và có được khả năng kháng thuốc kháng sinh thông thường. Kỹ thuật đã được trình bày vào ngày (1/5) trên một tạp chí chuyên ngành.

    Nghiên cứu này được ra đời rất đúng thời điểm khi mà con người đang phải đối mặt với những đột biến từ những vi khuẩn kháng thuốc. Tại Mỹ, siêu khuẩn được cho là gây ra nhiều cái chết hơn cả AIDS. Một ví dụ minh họa thực tế rằng hàng năm có hơn 19.000 người chết do vi khuẩn MRSA. Việc phát triển ra phương pháp mới này sẽ giúp phát hiện sớm các trường hợp bệnh cũng như thúc đẩy các nhà dược phẩm tăng tốc trong phát triển các loại thuốc kháng sinh mới.

    Tiến sĩ Vitaly Vodyanoy (Đại học Auburn) – một trong những người đứng đầu nhóm nghiên cứu đã cho biết họ tạo ra các virus kháng khuẩn được sử dụng để xác định các siêu khuẩn kháng kháng sinh. Từ đó sẽ tìm ra được cách để khử trùng tốt hơn cho bệnh viện cũng như chữa trị cho bệnh nhân kịp thời.

    Vodyanoy đã tiến hành tập trung thử nghiệm trên loại khuẩn tụ cầu (Staphylococcus hay còn được gọi là “staph”). Đây là một tác nhân gây ra rất nhiều loại bệnh nặng và có khả năng kháng kháng sinh rất cao. Một số các trường hợp nhiễm khuẩn tụ cầu có thể được chữa trị bằng kháng sinh bình thường nhưng mặt khác có nhiều các trường hợp kháng thuốc gây lây nhiễm vào các cơ quan nội tạng. Hậu quả của việc này thường là cái chết và những di chứng nặng nề khác.

    Nghiên cứu của tiến sĩ Vodyanoy được hợp tác với không quân Hoa Kỳ, cùng các đồng nghiệp ông đã chứng minh được các virus kháng khuẩn có thể được kết hợp cùng một số các kháng thể khác giúp xác định phần kháng kháng sinh trong các mẫu khuẩn tụ cầu. Những vi khuẩn này sẽ thay đổi màu sắc khi cho vào mẫu kháng thuốc trong thời gian ngắn. Theo như phát biểu của Tiến sĩ Vodyanoy thì, phương pháp của họ có thể xác định vi khuẩn kháng kháng sinh trong khoảng 10 – 12 phút và quy trình đơn giản rất nhiều so với phương pháp truyền thống.

Virut được sử dụng để xác định các mẫu kháng thuốc hoàn toàn vô hại với con người. Ngoài ra chúng được kì vọng sẽ là lớp tráng thủy tinh trong bệnh viện để kháng những khuẩn có hại. Trong tương lai nghiên cứu này được kì vọng sẽ hoàn thành và đi vào thực tế sớm.

(Tổng hợp từ internet - đã được xác thực)

Cuba chế tạo thành công vác xin chống ung thư

2013-12-29 19:04

Theo BBC, mới đây nữ bác sĩ Hizela Honsales, chủ nhiệm đề tài nghiên cứu điều chế vắc xin chống ung thư của Cuba, thông báo rằng nước này đã chế tạo thành công và đăng ký loại vắc xin chống ung thư phổi. Đây là loại vắc xin chống ung thư đầu tiên trên thế giới.

    Vắc xin có tên CIMAVAX-EGF và tác dụng trực tiếp lên khối u, khác với các phương pháp chống ung thư khác như hóa trị và xạ trị là vừa diệt tế bào ung thư vừa giết oan các tế bào khỏe mạnh. 

    Vắc xin chống ung thư của Cuba là kết quả 15 nghiên cứu của các cán bộ khoa học Trung tâm miễn dịch học phân tử Havana. Đây là loại thuốc duy nhất hiện nay cho phép biến ung thư phổi ở giai đoạn cuối thành “bệnh mạn tính được kiểm soát”. Vắc xin CIMAVAX-EGF được đăng ký dịch tễ tại Cuba tháng 6/2008 và hiện nay Cuba đang xúc tiến thủ tục đăng ký tại một loạt nước Nam Mỹ, trong đó có Côlômbia, Braxin và Áchentina.
    Bác sĩ Honsales cho biết, vắc xin ung thư được tạo ra dựa trên nền tảng chất protit mà ai cũng có - yếu tố tăng biểu bì liên quan đến quá trình phân chia tế bào, quá trình này vượt ra khỏi tầm kiểm soát khi bị ung thư. Cơ thế bình thường chỉ tiếp nhận “những gì cần” và loại bỏ “những thứ ngoại lai”, do đó để chế ra vắc xin thì cần phải tạo ra hợp chất hóa học nhằm sản sinh ra kháng thể chống tại chất protit này. CIMAVAX-EGF được bào chế từ hai loại protein thông thường và được chỉ định dùng cho những bệnh nhân ở giai đoạn bệnh đã phát triển. Thuốc không để lại tác dụng phụ như gây khó thở, biến ăn hoặc giảm cân. Thuốc còn giúp bệnh nhân bớt đau đớn, kéo dài thời gian sống trung bình 4-5 tháng hoặc có thể lâu hơn. Tuy nhiên, thuốc không có chức năng phòng bệnh.
    CIMAVAX-EGF bắt đầu được đưa vào cơ thể sau khi các bệnh nhân đã qua các đợt hóa trị và xạ trị. Việc sử dụng loại vắc xin mới được coi là giai đoạn điều trị cuối cùng và không có biện pháp nào thay thế. Sự phát triển của khối u bị kìm hãm mà không dùng đến bất kỳ hóa chất độc hại nào. Vắc xin này cũng có thể được dùng để điều trị bệnh kinh niên và còn có tác dụng nâng cao chất lượng sống cho bệnh nhân.

(Tổng hợp từ internet - đã được xác thực)

Vắc xin phòng chống ung thư cổ tử cung

2013-12-29 19:00

    Ung thư cổ tử cung là loại bệnh ung thư của phụ nữ. Mỗi năm trên thế giới có 450.000 phụ nữ bị ung thư cổ tử cung và một nửa trong số họ bị chết. Bệnh hiện xếp hàng đầu trong các loại ung thư gây tử vong ở những nước phát triển.

    Nếu bệnh được phát hiện ở giai đoạn sớm có thể điều trị khỏi hoàn toàn. Vậy cách phòng chống bệnh ung thư cổ tử cung như thế nào cho hiệu quả nhất.

    Phần lớn các bệnh ung thư đều liên quan tới biến đổi di truyền và yếu tố môi trường. Tuy nhiên, ung thư cổ tử cung lại do HPV gây ra. Virus này lây truyền qua tiếp xúc da, chủ yếu là qua con đường quan hệ tình dục.

    Thử nghiệm của Mỹ về vắc xin phòng ung thư cổ tử cung cho kết quả hết sức lạc quan: Tất cả những người được tiêm chủng đã không nhiễm virus HPV (Human Papilloma Virus), nguyên nhân chính gây ung thư cổ tử cung. Người ta hy vọng một ngày nào đó, căn bệnh chết người nói trên sẽ được thanh toán, giống như bại liệt và đậu mùa.

    Hiện nay trên thị trường Việt Nam có 2 loại vắc xin dự phòng nhiễm HPV :

    Vắc xin nhị giá (Cervarix): phòng ngừa 2 típ HPV 16, 18 có khả năng gây loạn sản, ung thư cổ tử cung…và Vắc xin tứ giá (Gardasil) phòng ngừa 4 típ HPV 6,11,16,18.

    Vắc xin được dung nạp tốt, ít tác dụng phụ. Tuổi được Bộ Y tế khuyến cáo tiêm hiện nay là 9-26 tuổi (không khuyến cáo tiêm ngừa HPV cho phụ nữ trên 26 tuổi). Tuy nhiên, một vài nước trên thế giới vẫn áp dụng tiêm phòng cho lứa tuổi trên 26. Thời điểm hiệu quả nhất để tiêm ngừa cho bé gái và phụ nữ trẻ là trước khi bắt đầu có quan hệ tình dục. Nhưng đối với những người chưa từng có quan hệ tình dục, việc tiêm vắc xin vẫn có hiệu quả dự phòng. Không cần thiết làm xét nghiệm HPV trước khi tiêm phòng

( Tài liệu: báo sức khỏe ngày nay)

Hoá dược một lĩnh vực nghiên cứu không giới hạn

2013-12-29 18:58

    Trong mọi lúc, bản năng sinh tồn đã thúc đẩy tất cả các loài động vật và thực vật phát triển khả năng chống chọi với bệnh tật. Động vật nói chung đã luôn có cách xác định cái gì có thể ăn trong môi trường của mình bằng phương pháp dùng thử và loại bỏ những thứ không dùng được (có thể phải qua những kinh nghiệm đau thương). Con người trong quá khứ cũng không ngoại lệ, tuy nhiên cùng sự phát triển của tri thức nhân loại, con người đã phát triển các kiến thức về thực vật, cây cỏ và các chất trong môi trường xung quanh có khả năng làm giảm đau cho mình. Từ đó các hướng về thử nghiệm lâm sàng ban đầu (không phải thử nghiệm ngẫu nhiên) và nghiên cứu dược phẩm đã được ra đời.

    Không giống như hầu hết các loài động vật khác, con người luôn vượt lên trên những tác động của môi trường bên ngoài lên cơ thể của mình. Bằng sự tò mò và sáng tạo, con người đã liên tục phân tích tỉ mỉ, chuyển đổi, chiết xuất, tổng hợp… và cuối cùng là tạo ra những hợp chất mới với tác dụng có ích cho con người, từ đó ngày càng mở rộng thêm kiến thức của con người về lĩnh vực này. Các tác dụng có lợi của vỏ cây liễu để chống lại cơn đau và hạ sốt đã được viết trong văn bản cổ của nền văn minh Sumer (6000-3000 trước Công nguyên). Có một điều chắc chắn là trước khi có được những kết quả như vậy thì con người đã phải nhận ra được đặc tính của loại cây này và có rất nhiều lần thử nghiệm trước khi có những văn bản đầu tiên. Nguồn gốc hoạt tính của vỏ cây liễu chính là acid salicylic, một hợp chất tự nhiên thuộc họ phenolic, có lẽ đã được sử dụng từ rất lâu để chống viêm.

     Các sản phẩm chữa bệnh ban đầu chỉ được sắc với nước (tách ra khi đun sôi với H2O), và gây nhiều tác dụng phụ. Sự thành công của phản ứng acyl hoá trong thế kỷ XIX đã mang lại cho nhân   loại một loại thuốc giảm đau được sử dụng rộng rãi nhất cho đến nay: Asprin (sản phẩm này đã giúp cho công ty Bayer trở thành một hãng dược phẩm khổng lồ như ngày nay). Đây là một ví dụ trong nhiều quá trình tổng hợp hóa học đầu tiên và sản phẩm được gọi là “thuốc”.

    Vai trò của hoá dược là nghiên cứu cấu trúc phân tử của hợp chất và cải thiện tính chất chữa bệnh của hợp chất đó. Đây là sự giao thoa của hoá học (khoa học về vật chất) và dược học (khoa học về hoạt tính của thuốc), liên kết chặt chẽ giữa tính chất dược lý và cấu trúc hóa học. Hầu hết các loại thuốc hữu cơ đều được cô lập từ thiên nhiên, một trong những nhiệm vụ quan trọng cơ bản của lĩnh vực hóa dược là làm thay đổi cấu trúc hoá học của hợp chất theo hướng mong muốn, có thể bằng tổng hợp hữu cơ. Các nghiên cứu về hóa dược bắt đầu ngay sau khi quá trình tổng hợp hữu cơ được hoàn tất : nghĩa là tiến hành xong phần tổng hợp các phân tử mong muốn, trong khi nhiệm vụ của hóa dược là khảo sát “các” hoạt tính của các phân tử này. Khi nói đến việc khảo sát các phân tử thuốc thì người ta luôn luôn dùng ở số nhiều, luôn luôn là “các hoạt tính” chứ không bao giờ dừng lại ở số ít “một hoạt tính” nào đó do mỗi hoạt tính luôn tác động lên rất nhiều thành phần khác nhau trong cơ thể. Bốn yếu tố quan trọng trong ngành hóa dược là dược lực học, dược động học (PK-ADME), độc tính và tính chất lý-hoá học.

    Hoá dược với đặc điểm liên ngành của nó đã làm cầu nối kết hợp hóa hữu cơ, hoá phân tích, hóa học phức chất, vật lý ... với sinh lý học và y học. Là một ngành khoa học có tính cơ bản rất cao trong việc phát hiện, nghiên cứu bản chất của thuốc và các nghiên cứu cơ bản đã và đang phát triển rất mạnh trong thập kỷ qua. Ngày nay với sự hợp tác của các nhà khoa học trên nhiều lĩnh vực đa và đang tiến hành nghiên cứu và tìm các loại hợp chất mới có khả năng chống ung thư, HIV-ADSI, virus,… và mở ra những hi vọng cho các bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo.

( Tài liệu: báo sức khỏe n(gày nay)

Đột phá trong công nghệ bào chế dược phẩm dùng đường uống

2013-12-29 18:29

            Với sự phát triển vượt bậc của ngành công nghệ dược phẩm, ngày nay hàng ngàn hoạt chất và hàng triệu chế phẩm đã có mặt và lưu hành trên thị trường Việt Nam, mang đến nhiều lựa chọn cho cả bác sĩ và bệnh nhân.

            Tuy nhiên, chính sự đa dạng đó cũng góp phần gây băn khoăn trong vấn đề chọn lựa thuốc điều trị. Với cùng một hoạt chất có thể có nhiều dạng chế phẩm khác nhau, đặc biệt là các chế phẩm thuốc dùng đường uống được bán rộng rãi tại các nhà thuốc và làm thế nào để chọn dạng thuốc phù hợp nhất cho bệnh nhân là vấn đề không đơn giản.heo PGS.TS Trương Văn Tuấn, chuyên gia về lĩnh vực bào chế – công nghiệp dược cho biết một số dạng chế phẩm phổ biến dùng cho đường uống có thể kể đến như viên nén (tablet), viên nang (capsule), viên sủi bọt (effervescence), viên ngậm (lozenge), bột (powder), cốm (granules), gel, dung dịch (solution), hỗn dịch (suspension), nhũ tương (emulsion), xirô (syrup)… Trong đó, viên nén là dạng bào chế được sử dụng phổ biến nhất vì có nhiều ưu điểm như: tính ổn định cao, liều lượng chính xác, dễ sản xuất, dễ vận chuyển và bảo quản, mỗi viên nén là một đơn vị liều với kích thước nhỏ do đó rất dễ sử dụng. Về phương diện bào chế, viên nén thông thường là các thành phần hoạt chất dạng bột hoặc hạt được trộn với các tá dược, cuối cùng nén với một áp lực thích hợp để thành từng viên nén nhỏ hoặc tuỳ trường hợp có thể bao thêm lớp bao đường hoặc bao một lớp màng mỏng bên ngoài. Về cách sử dụng, đa số viên nén được dùng bằng cách nuốt nguyên viên.

Hiện nay, công nghệ bào chế viên nén đã có nhiều bước tiến mới, đặc biệt là việc phát triển viên nén với hệ cấu trúc đa tiểu vi hạt (Multi Unit Pellet System (MUPS) giúp tối ưu hoá hiệu quả điều trị và sự linh hoạt trong sử dụng thuốc.

              Quy trình bào chế công phu và yêu cầu kỹ thuật nghiêm ngặt:

              Viên MUPS là viên nén được dập viên từ hàng ngàn vi hạt, các vi hạt này được bào chế bằng kỹ thuật bồi dần (sử dụng thiết bị bao tầng sôi) với quy trình như sau: từ nhân lõi trơ (saccarose) đóng vai trò là cái khung mang hoạt chất, từng lớp hoạt chất sẽ được bồi dần lên tạo thành lõi khung mang hoạt chất, tiếp đến lõi này được bao cách ly bằng lớp đệm pH giúp ổn định hoạt chất, tăng sức bền cơ học và tránh sự khuếch tán hoạt chất ra các lớp bên ngoài. Sau đó lớp kháng axít và chất hoá dẻo được bồi lên vi hạt để giúp các vi hạt này bền vững khi đi qua dịch dạ dày, cuối cùng các vi hạt sẽ được trộn với tá dược bao bảo vệ để chống dính và tăng độ trơn chảy trong quá trình dập viên.

            

            Theo Dược điển Mỹ USP, viên MUPS phải đạt tiêu chuẩn về độ bền của lớp kháng axít (tính kháng axít không được giảm quá 10% sau dập viên). Ngoài ra, cần đạt tiêu chuẩn về độ rã, độ đồng đều hàm lượng và khối lượng của từng vi hạt, kích thước vi hạt phải đủ nhỏ để tăng lượng vi hạt trong mỗi viên… Do đó, các vi hạt của viên MUPS gần như đạt đến giới hạn dưới của kích thước vi hạt với độ sai số thấp (0,6 ± 0,04mm).

            Giá trị của chất lượng

            Viên MUPS được cho là dạng bào chế hoàn thiện, đem lại hiệu quả điều trị cao và sự linh hoạt trong sử dụng. Mỗi viên MUPS khi uống vào sẽ nhanh chóng phân rã thành hàng ngàn vi hạt nhỏ, từ đó thuốc được hấp thu triệt để, nhanh chóng tạo ra đáp ứng thuốc, duy trì hiệu quả dài hơn, đồng thời thời điểm uống thuốc không phụ thuộc vào bữa ăn. Ngoài ra, với tính chất phân rã nhanh của viên nén MUPS, những bệnh nhân khó nuốt có thể hoà viên thuốc với một ít nước và uống, đối với những bệnh nhân nằm viện không nuốt được, bác sĩ có thể hoà viên thuốc trong ống thông dạ dày và bơm qua đường mũi cho bệnh nhân.

           Hiện nay, công nghệ bào chế viên MUPS đã được ứng dụng cho một số thuốc điều trị, như thuốc ức chế tiết axít trong bệnh lý tiêu hoá; để mang đến sự khác biệt so với các sản phẩm điều trị đường uống khác, góp phần nâng cao chất lượng điều trị và mang đến chất lượng cuộc sống tốt hơn cho bệnh nhân.

( Tài liệu: báo sức khỏe n(gày nay)

Thành phần hóa học và tác dụng trị bệnh của nấm linh chi

2013-12-29 18:25

        - Tác dụng trị bệnh của Linh Chi rất rộng rãi và rất ưu việt. Đó không phải là tác dụng riêng của một thành phần nào cả, mà là tác dụng của hỗn hợp nhiều chất có chứa trong Linh Chi.

 

        - Cho đến nay, thành phần hóa học của Linh chi đã được các nhà khoa học phân tích kỹ càng với các phương tiện hiện đại như: HPLC, sắc ký khí, UV, IR, NMR . . . cho thấy có gần 200 hoạt chất và dẫn chất có trong linh chi bao gồm acid amin, các acid hữu cơ, các acid béo, terprnoid, alkaloid, polysaccharide, protein, glycoprotein, các khoáng đa lượng và vi lượng.

(Tổng hợp từ internet - đã được xác thực)

 

<< 4 | 5 | 6 | 7 | 8 >>
 

Có thể bạn quan tâm

Thành phần Mỹ phẩm

 

 

 

 

 

 

Hóa dược