Hóa dược

Nghiên cứu chế tạo thuốc cúm Zanamivir từ axit sialic

2013-12-29 18:24

                Zanamivir là thuốc ức chế enzyme neuraminidase, được dùng để điều trị và phòng ngừa bệnh cúm trên cơ thể người. Hiện nay, các nhà khoa học Viện Hóa học (Viện KHCNVN) đã tiến hành nghiên cứu tổng hợp hoạt chất này.

               Bệnh cúm là một bệnh truyền nhiễm ở người, động vật có vú và các loài chim, gây ra bởi vi rút cúm tuýp A, B và C, là các vi rút có cấu trúc RNA thuộc họ Orthomyxoviridae. Ở những trường hợp nặng, bệnh cúm gây ra viêm phổi, suy hô hấp và có thể dẫn tới tử vong, đặc biệt  nguy hiểm đối với trẻ em, phụ nữ có thai, người già và người có bệnh kinh niên. Để đối phó với dịch cúm, các nhà nghiên cứu chủ yếu phát triển các vắc xin đặc hiệu và dự trữ các thuốc chống vi rút, gồm các thuốc ức chế enzym neuraminidase (oseltamivir và zanamivir) và các thuốc ức chế kênh ion M2 (amantadine và rimantadine) của vi rút cúm. Trong đó, cùng với tiêm phòng vắc xin, oseltamivir và zanamivir là các thuốc chống vi rút được WHO khuyến cáo nên ưu tiên sử dụng.

                Năm 2005, trước nhu cầu khẩn cấp về thuốc cho phòng ngừa đại dịch cúm, Viện Hóa học (Viện KHCNVN) đã được Chính phủ cho phép, nghiên cứu tổng hợp thành công hoạt chất oseltamivir từ nguồn nguyên liệu hồi trong nước. Kết quả là, thu được hiệu suất bằng 70% so với hiệu suất công bố của thế giới, sản phẩm đạt tiêu chuẩn làm thuốc. Tiếp tục hướng nghiên cứu này, các nhà khoa học Viện Hóa học đã khảo sát khả năng tổng hợp ở Việt Nam thuốc chống cúm Zanamivir từ axit sialic.

               Zanamivir và axit sialic (Axit N-axetylneuraminic)

                Cùng với oseltamivir, hiện nay Zanamivir là thuốc duy nhất có tác dụng phòng và chống dịch cúm do các vi rút H5N1 và H1N1 gây ra ở người. Nước ta đã có sự chuẩn bị về thuốc oseltamivir (Tamiflu), nhưng zanamivir còn chưa có. Zanamivir là thuốc cúm đầu tiên thuộc dòng NI được phát minh và thương mại hoá, trước cả oseltamivir. Tên khoa học của Zanamivir là axit 5-acetamido-4-guanidino-6-(1,2,3-trihydroxy-propyl)-5,6-dihydro-4H-pyran-2-carboxylic. Việc phát minh ra Zanamivir mở đường cho các nghiên cứu tìm thuốc mới có cùng tác dụng ức chế enzym neuraminidase nhằm phòng ngừa và chữa trị bệnh cúm.

                Axit sialic là nguyên liệu đầu để tổng hợp Zanamivir. Tên axit sialic (Neu5Ac2en) dùng chung để chỉ các dẫn xuất thế ở vị trí O- và N- của axit neuraminic, dùng riêng để chỉ axit N-axetylneuraminic. Axit sialic thuộc nhóm các carbohydrat và có mặt rộng khắp trong các tế bào động vật, trong các vi sinh vật, đặc biệt trong các glycoprotein và gangliosid. Axit sialic thương mại được chiết xuất từ nước ót (whey) của các quá trình chế biến phomat và sữa, cũng như từ lòng đỏ trứng, có giá bán khá cao (khoảng 5.000 USD/kg).

                Quá trình tổng hợp Zanamivir trên thế giới

                Năm 1994, Zanamivir lần đầu tiên được tổng hợp và công bố bởi Von Itzstein và các nhà khoa học tại khoa Hóa dược, Đaị học tổng hợp Monash (Australia). Sau đó, Chandler và các cộng sự của công ty Glaxo (GSK, Anh) tiếp thu kết quả, cải tiến các bước phản ứng và công bố năm 1995. Theo công bố, phương pháp này cho hiệu suất tổng thể 8,3%.

                Cho tới hiện nay, bài báo của Chandler là công bố duy nhất về phương pháp tổng hợp Zanamivir mà sản phẩm thu được ở lượng lớn hơn miligam, đồng thời cũng cung cấp các chi tiết về điều kiện phản ứng và tính chất hóa lý của các chất.

                Gần đây, nhóm nghiên cứu của Yao (Trung Quốc) đã đưa ra một cách tiếp cận mới để tổng hợp ra hợp chất trung gian 5. Các tác giả bắt đầu từ một nguyên liệu khác là D-glucono-δ-lactone, rẻ tiền hơn axit sialic, nhưng con đường tổng hợp tương đối dài và phức tạp (24 bước) và hiệu suất rất thấp (0,2%).

              Nghiên cứu tổng hợp Zanamivir từ axit sialic của Viện Hóa học

            Tổng hợp methyl N-acetylneuraminate (2) và O-pentaacetoxy  (3) từ axit sialc.

            Các nhà khoa học của Viện Hóa học đã sử dụng axit sialic (axit N-acetylneuraminic) 98% của Trung Quốc làm nguyên liệu đầu cho quá trình tổng hợp Zanamivir. Họ quyết định áp dụng phương pháp của Warner, sử dụng nhựa trao đổi ion Dowex-H với vai trò xúc tác, phản ứng thực hiện ở nhiệt độ phòng trong khoảng 10h, kết quả đã nhận được sản phẩm metyl (2) este của axit N-acetylneuraminic với hiệu suất 99%.

            Để tổng hợp O-pentaacetoxy (3), các nhà khoa học đã áp dụng một phương pháp axetyl hóa hiệu quả được công bố gần đây, sử dụng xúc tác BF3.OEt2 ở 0 0C, kết quả đã thu được sản phẩm với hiệu suất trên 95%.

            Việc sử dụng các xúc tác là nhựa trao đổi ion Dowex-H (cho phản ứng este hóa) và BF3.OEt2 (cho phản ứng axetyl hóa) có ưu điểm hơn so với các phương pháp công bố bởi các nhà khoa học của Glaxo.

              Tổng hợp hợp chất trung gian chìa khoá oxazoline (4) từ O-pentaacetoxy (3).

                Các nhà khoa học đã tiến hành khảo sát quá trình tổng hợp oxazoline (4) theo quy trình công bố củaChandler. Hợp chất O-pentaacetoxy (3) được tách loại 2 nhóm OAc và tạo vòng oxazoline nhờ tác dụng của axit Lewis mạnh là TMSOTf ở 52 0C trong 2,5 h. Hiệu suất của phản ứng đạt 40%. Thử nghiệm thay thế TMSOTf bằng xúc tác BF3.OEt2 trong dichloromethane ở nhiệt độ phòng trong 1 đêm, hiệu suất phản ứng tạo vòng oxazoline từ penta-acetoxy (5) cũng đạt tương tự như phương pháp dung TMSOTf (42%). Để nâng cao hiệu suất, các nhà khoa học khảo sát phương pháp one-pot, đi trực tiếp từ metyl este (2) tới oxazoline (4), mà không qua O-pentaacetoxy (3), cho hiệu suất cao nhất (73,3%) và có hiệu quả kinh tế nhất.

            Tổng hợp Zanamivir từ hợp chất trung gian oxazoline (4).

           Các nhà khoa học nghiên cứu thành công các phản ứng đi từ hợp chất trung gian oxazoline (4) tới sản phẩm cuối cùng Zanamivir (9). Sản phẩm zanamivir có các dữ kiện phổ IR và NMR đúng với cấu trúc.

            Như vậy, các nhà khoa học Viện Hóa học  đã xây dựng được một quy trình ổn định gồm 7 bước chính, tổng hợp thành công Zanamivir từ axit sialic với hiệu suất tổng thể là 6,6% (hiệu suất công bố của thế giới là 8,3%). Đặc biệt các giai đoạn đầu tiên, từ axit sialic đến oxazolin (4) đã được tối ưu hóa và cho hiệu suất tổng đạt 74%, cao hơn hiệu suất công bố của GSK (61,7%). Tuy nhiên, hiệu suất thu được ở các giai đoạn sau còn thấp. Hiện nay, các nghiên cứu tổng hợp thuốc cúm Zanamivir vẫn tiếp tục được tiến hành.

(Tổng hợp từ internet - đã được xác thực)

NOSH – aspirin và hiệu quả chống ung thư

2013-12-29 18:23

            Một nghiên cứu mới của các nhà khoa học Mỹ đã cho thấy khả năng chống ung thư hiệu quả của aspirin. Tuy nhiên, đây không phải là loại aspirin đơn lẻ thông thường mà là một dạng aspirin phức hợp mới có tên gọi NOSH – aspirin. NOSH – aspirin được chứng minh là thực sự hiệu quả trong việc kiểm soát sự phát triển của các dòng ung thư: ung thư ruột kết, ung thư phổi, ung thư tuyến tiền liệt, ung thư tuyến tụy, ung thư vú, ung thư máu…

                    

        Các nghiên cứu trước đây cũng đã nhận thấy khả năng chống ung thư của loại aspirin đơn lẻ. Một nghiên cứu công bố trong ấn bản tháng 2 năm 2012 của Tạp chí nghiên cứu phòng chống ung thư cho thấy việc điều trị aspirin hàng ngày có thể giảm đáng kể tỷ lệ tử vong do ung thư đại trực tràng. Với dữ liệu từ gần 14.000 bệnh nhân trong một thử nghiệm phòng ngừa bệnh tim mạch, họ đã nhận thấy rằng việc điều trị aspirin hàng ngày trong khoảng 5 năm có thể giảm 34% tỷ lệ tử vong ung thư đại trực tràng trong 20 năm. Một phân tích sâu đối với gần 3.000 bệnh nhân có tiền sử u tuyến đại trực tràng hoặc ung thư đại trực tràng aspirin làm giảm 28% sự xuất hiện khối u tiến triển và 17% đối với các u tuyến bất kỳ…


          Cũng một nghiên cứu khác được đăng tải trên chính tạp chí này cũng cho thấy tiềm năng của aspirin trong việc ngăn ngừa ung thư cổ tử cung ở phụ nữ bị nhiễm HIV. Các nghiên cứu cho thấy vi rút gây bệnh AIDS cũng làm tăng sản xuất prostaglandin được gọi là PGE2 trong mô cổ tử cung. PGE2 có liên quan với viêm nhiễm và sự phát triển của các khối u. Các tác giả nhận thấy aspirin có thể ngăn chặn COX-2 - chất cho phép prostaglandin được hình thành. Chính vì vậy, aspirin có thể ngăn ngừa ung thư cổ tử cung ở phụ nữ có nguy cơ cao.

        Trong nghiên cứu mới của các nhà khoa học Mỹ, những loại NOSH – aspirin được thử nghiệm có khả năng phòng chống ung thư hiệu quả hơn 100.000 lần so với loại aspirin đơn lẻ. Ngoài ra, loại aspirin mới này không gây tổn hại tế bào bình thường. Dang aspirin mới này được đặt tên NOSH – aspirin bởi chúng có khả năng giải phóng nitric oxide (NO) và hydrogen sulfide (H2S). Đây là những hợp chất có thể được tạo ra trong cơ thể, với tác dụng chính là làm giãn nở mạch máu, giảm viêm và một số lợi ích khác.

        Việc sử dụng aspirin đơn lẻ có thể làm tăng nguy cơ loét và chảy máu dạ dày, đồng thời tăng nguy cơ cháy máu não, đặc biệt ở người cao niên. Trước đây, các nhà khoa học đã tạo ra 2 dòng aspirin có khả năng sinh hoặc NO hoặc H2S. Những hợp chất này không gây kích thích dạ dày. Dạng aspirin phức hơn mới NOSH – aspirin thậm chí còn hiệu quả hơn 2 dòng aspirin trước và vẫn an toàn đối với dạ dày. Tác dụng này là do các nhà nghiên cứu quan sát thấy NO có một số thuộc tính giống như prostaglandin trong niêm mạc dạ dày. Các nghiên cứu khác về sự gắn kết giữa NO và một tác nhân chống viêm cũng an toàn đối với dạ day hơn so với bản thân tác nhân chống viêm đơn lẻ.

(Tổng hợp từ internet - đã được xác thực)

Rau họ cải trị ung thư phổi

2013-12-29 18:22

       Nhóm chất có tên isothiocyanates trong các loại rau họ cải như súp lơ xanh, bắp cải, cải xoong... có khả năng kìm hãm sự phát triển của tế bào ung thư phổi trong các thử nghiệm trên chuột và tế bào ung thư của người. Các nhà khoa học đến từ Đại học Georgetown và Viện phòng chống ung thư Mỹ tin rằng nếu tập trung nhóm chất isothiocyanate thành viên thuốc thì một ngày nào đó những người đang hoặc từng hút thuốc lá sẽ tránh được căn bệnh ung thư phổi ghê sợ. 

                        

      Trong nghiên cứu, trưởng nhóm nghiên cứu Fung - Lung Chung và cộng sự cho một số con chuột tiếp xúc với các chất sinh ung thư từ thuốc lá. Sau đó, một nửa số chuột này tiếp nhận hợp chất từ họ cải, số còn lại để nguyên. Sau một thời gian, người ta quan sát thấy isothiocyanate kìm hãm sự phát triển của cả khối u lành tình và ác tính. Những con không được điều trị nhanh chóng phát triển ung thư. 

      Trong thử nghiệm thứ hai, các nhà khoa học kiểm tra tác dụng của isothiocyanates trên các tế bào ung thư phổi của người. Những tế bào này được kích thích phát triển nhờ một gene tăng trưởng và điều tiết tế bào. Kết quả cho thấy, các dẫn xuất của isothiocyanate đã buộc các tế bào ung thư phổi của người chết đi. 
      Tuy nhiên, tiến sĩ Chung cho rằng cần kiểm nghiệm thêm tác dụng của isothiocyanate trên cơ thể người vì không thể so sánh trực tiếp mức độ tiêu thụ rau họ cải ở người và hiệu quả quan sát thấy trên chuột 

Ngũ cốc, đậu, lạc chống ung thư

      Các nhà khoa học Mỹ vừa phát hiện ra một hợp chất tự nhiên trong các loại ngũ cốc, đậu và lạc có khả năng khống chế sự phát triển của khối u. Chất này có thể được dùng để bào chế thuốc chống ung thư. Chất mới có tên là inositol pentakisphosphate, cũng được tìm thấy trong đậu lăng và đậu Hà Lan - tiến sĩ Marco Falasca, Đại học College London (ULC) cho biết. Chất này khống chế một men có tên là phosphoinositde 3 - kinase chuyên kích thích ung thư phát triển.

      Khi tìm hiểu đặc tính của inositol pentakisphosphate trên chuột và các tế bào ung thư trong phòng thí nghiệm, người ta nhận thấy nó tiêu diệt khối u ở chuột và tăng cường hiệu lực của những thuốc dùng trong điều trị bệnh ung thư phổi và buồng trứng. 
      Falasca tin rằng hợp chất inositol pentakisphosphate hoàn toàn không gây độc, kể cả khi ở liều cao. Nó có khả năng hỗ trợ liệu pháp hóa trị, khi mà những dược liệu khống chế enzyme chuyên kích thích sự phát triển ung thư còn hạn chế.

( Tài liệu: báo sức khỏe ngày nay)

Vì sao rượu gây ung thư gan

2013-12-29 18:21

          Uống rượu là nét văn hóa giao tiếp được sử dụng tại nhiều quốc gia trên thế giới. Tại Việt Nam việc sử dụng rượu và các chất kích thích có cồn vô cùng phổ biến và dường như không thể thiếu tại các bữa tiệc, ngày vui… Tuy nhiên, việc uống rượu vô độ, tiệc tùng, chè chén liên miên gây ra rất nhiều hậu quả đáng tiếc, trong đó có bệnh ung thư gan. 

                  

          Ung thư gan là gì?

          Cơ thể người là một nhà máy với hàng tỷ tế bào liên tục được sản sinh, lão hóa và chết đi. Quá trình này được kiểm soát chặt chẽ. Nếu việc kiểm soát bị phá vỡ, các tế bào bắt đầu phát triển và phân chia bất thường, phân nhóm với nhau để tạo thành một khối tế bào gọi là khối u. Ung thư là tên gọi cho một khối u ác tính.

            Ung thư gan hay là một bệnh ung thư bắt nguồn từ gan. Ung thư gan ác tính phát triển trên bề mặt hoặc bên trong gan. Các khối u gan thường được phát hiện tình cờ khi người bệnh đi khám sức khỏe hoặc xuất hiện triệu chứng có khối u bụng, đau bụng, vàng da, buồn nôn, rối loạn chức năng gan, khi đó bệnh đã bắt đầu tiến triển nặng.

      Ở các nước Châu Á, bệnh ung thư gan thường gặp phải ở nam giới, hầu hết những người mắc bệnh này không phải do di truyền mà do tiêu thụ quá nhiều rượu bia, các chất có cồn. Về bản chất, ung thư gan là do sự sai hỏng cấu trúc tế bào ở gan. Vậy, tại sao nói uống rượu bia nhiều có thể gây ung thư gan?

         Rượu tác động tới gene có khả năng gây ung thư

       Nghiên cứu sơ bộ cho thấy rằng rượu có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của bệnh ung thư ở cấp độ di truyền bằng cách ảnh hưởng đến các gen gây ung thư trong giai đoạn đầu và xúc tiến bệnh ung thư. Nó sản sinh acetaldehyde, một sản phẩm của quá trình chuyển hóa rượu, làm suy yếu khả năng sửa chữa sai sót tự nhiên DNA của tế bào, kết quả làm tăng nguy cơ đột biến dẫn đến ung thư.

Ngoài ra, rượu có thể làm thuận lợi cho quá trình gây ung thư của các gen gây ung thư (cocarciongen) vì nó có khả năng liên kết với một số enzyme thường làm nhiệm vụ giải độc cho cơ thể, một trong những enzyme này là cytochrome P - 450. Uống nhiều rượu có thể tạo nên các cytochrome P - 450 ở gan, phổi, thực quản và ruột, nơi mà bệnh ung thư thường xảy ra ở người uống nhiều rượu.

Rượu gây tổn thương các tế bào gan

       Lạm dụng rượu có thể dẫn đến những bất thường trong quá trình trao đổi chất của cơ thể và sau đó thúc đẩy một số loại ung thư. Riêng đối với gan – nhà máy lọc độc của cơ thể, việc uống rượu thường xuyên liên tục lại là một hành động "đầu độc" gan. Thông thường khả năng giải độc của gan chỉ nằm trong một giới hạn nhất định. Sử dụng nhiều rượu gây quá tải lên hệ thống lọc của gan từ đó các tế bào gan bị thương tổn và bị thay thế thành mô sẹo mãi mãi gây xơ gan mãn tính, dẫn đến ung thư gan. Ngoài ra, rượu còn có thể làm trầm trọng thêm bệnh xơ gan gây ra bởi các virus viêm gan B hoặc C trước đó.

    Các quý ông thường hay nói đùa: “Rượu cũng từ gạo mà ra. Cho nên, uống rượu có khác gì ăn cơm đâu”. Rõ ràng đây là một suy nghĩ hoàn toàn không có lợi và khôn ngoan cho sức khỏe. Vì vậy, lời khuyên tốt nhất cho những người thường xuyên sử dụng rượu là hãy dừng lại, hãy biết yêu quý trân trọng lá gan của mình bởi gan có khỏe mới có thể "thanh lọc cơ thể" tốt. Nhất là trong dịp Tết sắp đến, mỗi lần tiết chế việc ”nâng ly lên” là chính là thêm cho mình cơ hội bảo vệ lá gan, bảo vệ cơ thể và tránh những rắc rối trong hành vi hay những nguy cơ tai nạn do việc say rượu mang lại. Hãy để mình và người thân có một cái Tết vui và thật trọn vẹn.

(Tổng hợp từ internet - đã được xác thực)

 

Phòng chống ung thư vú bằng vitamin D và Canxi

2013-12-29 18:18

            Kết quả nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy nguy cơ phát triển ung thư vú giai đoạn tiền mãn kinh giảm ở những phụ nữ tiêu thụ lượng canxi và vitamin D cao. Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì cho đến nay, ung thư vú vẫn là một trong những loại ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ trên toàn thế giới.

            Tiến sỹ Jennifer Lin - đại học y khoa Harvard, Boston - cùng đồng nghiệp đã khảo sát 10.578 phụ nữ tiền mãn kinh và 20.909 phụ nữ mãn kinh từ tuổi 45 trở lên. Khi bắt đầu nghiên cứu những người tham gia hoàn thành một bảng hỏi đáp về tiền sử y tế và lối sống của họ, cùng mức độ thường xuyên của việc tiêu thụ một số thức ăn, đồ uống và thực phẩm bổ sung trước đó. Cứ mỗi sáu tháng trong năm đầu tiên và mỗi năm trong khoảng thời gian sau đó, người tham gia được theo dõi bằng việc tiếp tục trả lời bảng hỏi đáp cho dù họ có bị chẩn đoán là ung thư vú hay không.

            Kết quả trong 10 năm theo dõi, có 276 phụ nữ tiền mãn kinh và 743 phụ nữ mãn kinh bị ung thư vú tiến triển. Việc dùng canxi và vitamin D với liều lượng vừa phải chỉ làm giảm nguy cơ ung thư vú ở phụ nữ tuổi tiền mãn kinh, không ghi nhận ở phụ nữ mãn kinh. Không những vậy, ở phụ nữ tiền mãn kinh, sự liên quan giữa bổ sung vitamin D và canxi với việc giảm mức độ ác tính của khối u vú cũng được biểu hiện rõ ràng.

            Giải thích cho điều này, các nhà khoa học đề cập đến mối liên hệ giữa Canxi, vitamin D và yếu tố phát triển giống insulin (IGFs). Các nghiên cứu đựợc thực hiện trong phòng thí nghiệm cho thấy canxi và vitamin D gây hiệu ứng kháng ung thư trên các tế bào ung thư vú thể hiện mức độ cao của IGF-1 và protein gắn kết IGF bởi sự tương tác giữa 3 yếu tố này (Canxi, vitamin D và protein gắn kết IGF) gây sự ức chế tế bào khối u. Vì nồng độ protein gắn kết IGF trong máu suy giảm theo tuổi tác nên tác dụng chống ung thư vú của canxi và vitamin D không thể hiện rõ ở phụ nữ sau tuổi mãn kinh. 

                        

                Cũng theo một nghiên cứu khác của tiến sĩ Jaime Matta - đại học Y khoa Ponce, Puerto Rico – thì việc bổ sung vitamin D và canxi không có tác dụng tức thì mà mang lại hiệu quả lâu dài trong việc làm giảm ung thư vú.

                Nghiên cứu được tiến hành trên 268 phụ nữ mắc bệnh ung thư vú và nhóm đối chứng gồm 457 người khỏe mạnh. Tiến sĩ Jaime Matta ghi nhận những phụ nữ lớn tuổi, có tiền căn gia đình mắc bệnh ung thư vú, không cho con bú và khả năng tự sữa chữa DNA thấp là những đối tượng có nguy cơ mắc bệnh cao. Vitamin D làm giảm 30% nguy cơ ung thư vú, trong khi đó việc bổ sung canxi có thể giảm tới 40% nguy cơ này.

            Giải thích cho kết quả trên, các nhà khoa học cho rằng khả năng bảo vệ của canxi và vitamin D với bệnh ung thư vú là do chúng tăng cường khả năng tự sữa chữa DNA – một tiến trình phức tạp liên quan ít nhất đến 200 protein và 5 con đường khác nhau – từ đó giảm tỷ lệ đột biến tế bào và phát sinh ung thư.

            Từ kết quả những nghiên cứu trên, các nhà khoa học khuyến cáo việc bổ sung liều lượng thích hợp của Vitamin D và Canxi là một trong những phương pháp hiệu quả để ngăn chăn ung thư vú tuổi tiền mãn kinh

(Tổng hợp từ internet - đã được xác thực)

Giải pháp mới cho người ung thư vú

2013-12-29 18:18

    Ung thư vú là một căn bệnh có thể bắt gặp và là nỗi lo lắng rất lớn ở các chị em phụ nữ. Ngoài bệnh sử gia đình do gene di truyền gây ra, phần nhiều nguyên nhân gây bệnh ung thư vú là do thói quen ăn uống của người phụ nữ. Hiện nay, các nhà khoa học đang hướng tới nghiên cứu tìm ra những hoạt chất có tác dụng phòng ngừa hoặc hỗ trợ điều trị ung thư vú.

    Các nhà nghiên cứu khoa Dược, đại học Calabria, Italy cho rằng hoạt chất resveratrol có trong trái nho hoặc các loại rượu vang từ nho có thể giúp ngăn chặn sự phát trển ác tính của bệnh ung thư vú ở phụ nữ bằng tác động lên hormon estrogen. Resveratrol ngăn cản bước đầu tiên xảy ra khi estrogen bắt đầu quá trình dẫn đến ung thư vú.

    Các nhà khoa học đã kiểm tra tác động của resveratrol trên một số dòng ung thư vú khác nhau. Họ nhận thấy ở những dòng tế bào ung thư được điều trị với resveratrol, sự nhân lên của các tế bào có sự giảm bớt đáng kể, điều này không xuất hiện ở các dòng tế bào không được điều trị.

       Các nhóm nghiên cứu kết luận rằng: “ Chất resveratrol có khả năng ngăn chặn sự tiến triển ác tính của tế bào ung thư vú bằng cách kìm hãm sự phát triển và lây lan của các tế bào ung thư kháng hormon. Điều này mở ra hướng mới cho cho người bệnh trong việc điều trị bệnh ung thư vú khi các khối u kháng với phương pháp điều trị nội tiết tố.

    Bệnh viện Cleveland cũng cho biết, resveratrol khi dùng kết hợp với rapamycin (một loại thuốc ức chế miễn dịch điều trị ung thư vú) cho hiệu quả gấp đôi trong việc tiêu diệt tế bào ung thư vú hơn khi rapamycin được điều trị một mình. Nghiên cứu này kết luận rằng chất resveratrol có thể là một hoạt chất tích hợp tốt cho trong các loại thuốc hỗ trợ cho hóa trị truyền thống.
           Ngoài tác dụng đối với bệnh ung thư, resveratrol còn được chứng minh là giúp làm tăng sự nhạy cảm của tế bào đối với insulin nên tốt cho người tiểu đường type 2.

            Tuy nhiên, vì tính chất chống tiểu cầu của resveratrol, bệnh nhân đang dùng thuốc chống đông máu hay thuốc chống kết cụm tiểu cầu hoặc đang dùng dược thảo có tiềm năng tăng nguy cơ xuất huyết ( tỏi, gừng, bạch quả, sâm, nghệ ) phải cẩn thận khi dùng resveratrol.

 

          Với những lợi ích từ resveratrol, người ta hi vọng rằng trong tương lai những phụ nữ mắc bệnh ung thư vú sẽ có cơ hội tiếp cận với cách chữa trị hiệu quả và nhẹ nhàng hơn thay vì hóa trị hay phẫu thuật. Nhưng nói như vậy không có nghĩa các nhà khoa học khuyến khích sử dụng nhiều rượu vang nho hoặc bổ sung resveratrol một cách không kiểm soát. Khoa học hiện nay vẫn chưa tìm hiểu được hết tất cả tác dụng của resvertrol do đó nên hỏi ý kiến bác sĩ hoặc chuyên gia trước khi muốn sử dụng resveratrol để điều trị bệnh.

( Tài liệu: báo sức khỏe ngày nay)

 

<< 5 | 6 | 7 | 8 | 9 >>
 

Có thể bạn quan tâm

Thành phần Mỹ phẩm

 

 

 

 

 

 

Hóa dược