Biện pháp cải tạo
Thích ứng với nước biển dâng do biến đổi khí hậu
2013-12-30 10:17Nhiều nghiên cứu khẳng định rằng với nguyên nhân chủ yếu là do biến đổi khí hậu (BĐKH), mực nước biển sẽ dâng cao dần trong thế kỉ 21. Mực nước biển dâng cao đã và đang là một thách thức rất lớn đối với nhiều hệ sinh thái, đa dạng sinh học và tài nguyên thiên nhiên, ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều mặt trong đời sống xã hội của con người trên qui mô toàn cầu.
1. Sự cần thiết phải thích ứng với nước biển dâng
Nhiều nghiên cứu khẳng định rằng với nguyên nhân chủ yếu là do biến đổi khí hậu (BĐKH), mực nước biển sẽ dâng cao dần trong thế kỉ 21. Mực nước biển dâng cao đã và đang là một thách thức rất lớn đối với nhiều hệ sinh thái, đa dạng sinh học và tài nguyên thiên nhiên, ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều mặt trong đời sống xã hội của con người trên qui mô toàn cầu. Bất kể những nỗ lực hiện tại và trong thời gian tới của toàn thế giới nhằm cắt giảm khí thải nhà kính, cũng không thể ngăn chặn ngay được những tác động tiêu cực do mực nước biển dâng cao. Bởi vậy, thích ứng với nước biển dâng do BĐKH gây ra trong bối cảnh hiện tại là một việc quan trọng để giảm thiểu tính dễ tổn thương, giúp tăng cường khả năng sống chung với lũ, hạn chế các rủi ro mà nước biển dâng mang lại.
2. Ba nhóm giải pháp thích ứng với nước biển dâng
Để ứng phó, thích ứng với việc nước biển dâng cao, tại nhiều quốc gia, nhiều giải pháp thích ứng đã được nghiên cứu, triển khai ví dụ như tăng cường, gia cố các hệ thống đê kè, trồng rừng ngập mặn, xây dựng hệ thống bơm giảm ngập, chuẩn bị các bản đồ xác định những điểm dễ bị tổn thương, di chuyển các cơ sở nuôi trồng thủy sản và cơ sở hạ tầng ven biển…Nhìn chung, tuỳ theo mức độ phát triển kinh tế và tình hình thực tế khác nhau mà các nước có những cách lựa chọn giải pháp cụ thể hoặc kết hợp các giải pháp sao cho tối ưu để thích ứng với nước biển dâng do tác động của BĐKH. Tuy nhiên, tựu trung lại, các lựa chọn thích ứng được chia thành 3 nhóm chính là:
- Các biện pháp bảo vệ: bao gồm giải pháp bảo vệ “cứng” và bảo vệ “mềm”, trong đó các giải pháp bảo vệ cứng chú trọng đến các can thiệp vật lý, giải pháp kĩ thuật công trình xây dựng cơ sở hạ tầng như xây dựng tường biển, tôn cao các tuyến đê, kè sông, kè biển, xây dựng đập ngăn nước mặn hoặc kênh mương để kiểm soát lũ lụt…trong khi đó các biện pháp bảo vệ mềm lại chú trọng các giải pháp thích ứng dựa vào hệ sinh thái như tăng cường trồng rừng phòng hộ ven biển, đầu tư vào đất ngập nước, bổ sung đất cho các bãi biển, cải tạo các cồn cát ven biển, trồng rừng ngập mặn…
- Các biện pháp thích nghi: các biện pháp này nhấn mạnh đến việc đầu tư cải tạo cơ sở hạ tầng, chuyển đổi tập quán canh tác, chú trọng đến việc điều chỉnh các chính sách quản lý bao gồm những phương pháp quy hoạch đón đầu, thay đổi các tiêu chuẩn xây dựng, sử dụng đất, các tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường... nhằm giảm thiểu tính dễ tổn thương, tăng cường khả năng thích nghi, sống chung với lũ của cộng đồng trước tác động của BĐKH và nước biển dâng.
- Các biện pháp di dời: phương án cuối cùng khi mực nước biển dâng lên mà không có điều kiện cơ sở vật chất để ứng phó là biện pháp di dời, rút lui vào sâu trong lục địa. Đây là phương án né tránh tác động của việc nước biển dâng bằng tái định cư, di dời nhà cửa, cơ sở hạ tầng ra khỏi vùng có nguy cơ bị đe doạ bị ngập nước. Phương án này bao gồm cả việc di dân từ vùng đất ngập nước vào sâu trong nội địa.

Ba lựa chọn thích ứng với nước biển dâng
3. Vấn đề đặt ra trong công tác thích ứng với nước biển dâng tại Việt Nam
Với khoảng 3.260km đường bờ biển chạy dài suốt từ Bắc xuống Nam, cùng với khoảng 50% dân số cả nước đều là các vùng đất thấp, Việt Nam được đánh giá là một trong các quốc gia dễ bị tổn thương và chịu nhiều tác động tiêu cực do nước biển dâng gây ra do BĐKH. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (2007), nếu mực nước biển dâng 1m sẽ có khoảng 10% dân số bị ảnh hưởng trực tiếp, tổn thất đối với GDP khoảng 10%. Nếu nước biển dâng 3m sẽ có khoảng 25% dân số bị ảnh hưởng trực tiếp và tổn thất đối với GDP lên tới 25%. Có thể thấy, hậu quả của biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng đối với Việt Nam là nghiêm trọng và là một nguy cơ hiện hữu cho mục tiêu xoá đói giảm nghèo, ảnh hưởng tiêu cực đến việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ cùng sự phát triển bền vững của đất nước.Việt Nam không thể né tránh được mà phải thích ứng với việc mực nước biển dâng.
Kinh nghiệm các nước đã chỉ ra rằng có 3 nhóm biện pháp thích ứng với nước biển dâng, đó là Bảo vệ, Thích nghi và Rút lui. Với 3 nhóm giải pháp này, nhìn chung những lựa chọn thích ứng có thể rất đa dạng, rõ ràng tùy thuộc vào các chính sách ưu tiên, mức độ tác động, tình hình thực tế về kinh tế, xã hội và các nguồn lực khác nhau mà tại nước ta, ở mỗi địa phương có thể có những cách lựa chọn giải pháp cụ thể một hoặc hai hoặc kết hợp cả ba để giải quyết tối ưu vấn đề thích ứng với nước biển dâng. Tuy nhiên, điểm quan trọng cần nhấn mạnh để thực hiện có hiệu quả trong công tác thích ứng với nước biển dâng đó là: việc áp dụng các giải pháp thích ứng với nước biển dâng cần được triển khai với sự chú trọng dài hơi hơn đến những dự báo trong tương lai, thay vì chỉ chủ yếu tập trung vào những điều kiện khí hậu trước mắt, bên cạnh đó, cần có một sự thay đổi trong tư duy, cách nhìn nhận về việc thích ứng từ bị động thành chủ động đối phó, phòng ngừa, tránh việc thích ứng thường có theo kiểu “trông và chờ”; đồng thời, cần đưa những tác động nước biển dâng như chỉ dẫn quan trọng cho việc hoạch định chính sách; xem xét tận dụng cơ hội mà tác động của nước biển dâng mang lại thay vì chỉ theo chiều tư duy ứng phó và cũng cần vận dụng các quan niệm mới này để lồng ghép, triển khai một hệ thống chính sách đồng bộ, nhất quán và toàn diện, củng cố khả năng thích ứng của từng địa phương và quốc gia trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước trong bối cảnh biến đổi khí hậu, nước biển dâng ngày càng diễn biến phức tạp.
(Tổng hợp Internet-đã được xác thực)
Dùng vỏ lạc cải tạo ruộng và nguồn nước nhiễm kim loại độc
2013-12-30 10:15
Xử lí ô nhiễm không khí
2013-12-30 10:14Xử lí ô nhiễm không khí trong thời đại chúng ta ngày càng ô nhiễm nặng nề bởi các công ty công nghiệp. Cháy rừng, núi lửa, bụi sản xuất công nghiệp như sản xuất xi măng, chế biến gỗ, sản xuất hóa chất, sản xuất thức ăn gia súc, sản xuất hóa chất, các lò hơi, lò đốt, động cơ máy bay, xe ô tô..đốt rất nhiều nhiên liệu hóa thạch, xăng dầu, gas…tất cả đã và đang gây ảnh hưởng nặng nề đến môi trường sống con người như hiện tượng nóng lên toàn cầu khiến băng tan làm mực nước biến nhấn chìm nhiều thành phố, làm đất đai nhiễm mặn không canh tác được, gây nên thiên tai, bệnh tật cho con người.
Để con cháu đời sau chúng ta không phải gánh những thảm họa từ thiên nhiên, chúng ta phải có những hành động xử lý ô nhiễm không khí để bảo vệ môi trường.

Xử lý ô nhiễm không khí bằng tháp hấp phụ
Trong giới hạn bài viết này chúng tôi chỉ giới thiệu đặc điểm ô nhiễm và sơ lược cách xử lý khí thải của một vài các nhà máy sản xuất thường gặp.
(Tài liệu: báo Hóa học và Ứng dụng)
Trồng dương xỉ cải tạo đất
2013-12-30 10:11Các nhà khoa học Trung Quốc đã dần dần hoàn thiện kỹ thuật trồng cây dương xỉ (Pteris vittata L.) để “hút” các nguyên tố kim loại nặng trong đất như thạch tín, đồng, kẽm… Với kỹ thuật này, họ hy vọng có thể giải quyết về cơ bản vấn đề ô nhiễm kim loại nặng ở vùng hạ du của Trung Quốc do quá trình khai khoáng gây nên.
Trong buổi trả lời phỏng vấn mới đây, nghiên cứu viên Chen Tong Bin (Trần Đồng Bân) của Viện nghiên cứu Tài nguyên và khoa học địa lý, thuộc Viện Khoa học Trung Quốc cho biết: họ trồng những loại cây có khả năng hấp thu các loại kim loại nặng hơn mức bình thường như loài cây dương xỉ trên vùng đất bị ô nhiễm để chúng hút kim loại nặng, sau đó họ sẽ “thu hồi” lại các kim loại nặng từ loài cây này để tách kim loại thuần ra làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp.

Nhóm nghiên cứu của Chen Tong Bin đã tiến hành một cuộc cải tạo quy mô lớn cho hơn 5000 mẫu đất nông nghiệp bị ô nhiễm ở huyện Hoàn Giang, thành phố Hà Trì tỉnh Quảng Tây. Sau mỗi đợt lũ lụt, đất ruộng và lưu vực sông ở các tỉnh Quảng Tây và Vân Nam đều bị ô nhiễm nặng do kim loại nặng nồng độ cao tràn xuống từ các khu khai khoáng, ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng sản xuất.
Theo số liệu của các cơ quan chức năng Trung Quốc, hiện nay nước này có gần 2.000 vạn ha đất canh tác bị ô nhiễm kim loại nặng, chiếm gần 20% tổng diện tích đất canh tác, hàng năm thiệt hại tới 1.000 vạn tấn lương thực, trực tiếp gây tổn thất kinh tế hơn 10 tỷ NDT.
Đội khôi phục đất ô nhiễm kim loại nặng của Chen Tong Bin bắt đầu điều tra tình trạng ô nhiễm kim loại nặng của đất trên toàn quốc từ năm 1997, đến năm 1999 họ đã phát hiện ra cây dương xỉ – loài cây đầu tiên trên thế giới được biết đến có khả năng siêu hút chất thạch tín.
Cho đến nay, họ đã phát triển được 3 kỹ thuật có bản quyền sở hữu trí tuệ về trồng cây phục hồi đất và đánh giá độ ô nhiễm của đất, họ cũng đã tìm được 16 loại cây khác cũng có khả năng hấp thu kim loại nặng trên lãnh thổ Trung Quốc.
Loài cây dương xỉ phân bố trên diện rộng ở miền Nam Trung Quốc, hàm lượng thạch tín ở trên lá của cây lên tới 8‰, vượt xa so với hàm lượng đạm, lân có trên thân cây mà cây vẫn phát triển tươi tốt. Khả năng hút thạch tín của loài cây này không ngừng tăng mạnh theo sự phát triển của cây, chúng còn có thể di truyền đặc tính này cho các cây thế hệ sau.
Hiện nay, nhóm nghiên cứu lần đầu tiên dùng kỹ thuật bức xạ đồng bộ và kính hiển vi điện tử scan môi trường để phân tích cơ chế chịu thạch tín của loài cây này trên thân cây sống.
Nghiên cứu của nhóm cũng đã phát hiện ra các sợi lông tơ trên cây dương xỉ có khả năng tập hợp thạch tín rất đặc biệt, những sợi lông có nước chính là nơi tích trữ chủ yếu của thạch tín, nó có tác dụng cách biệt rất rõ ràng đối với thạch tín, vì thế loại độc tố này bị “nhốt kín” ở một nơi an toàn trong thân cây nên không hề ảnh hưởng đến sự phát triển của cây.
(Tài liệu: báo Hóa học và Ứng dụng)
Vi sinh vật - giải pháp xử lý môi trường
2013-12-30 10:11Trong lĩnh vực này, vi sinh vật môi trường đang là phương pháp tiếp cận nghiên cứu tốt nhất của thế giới, tập trung vào việc phân lập vi sinh vật từ tự nhiên hay tạo ra các chủng giống vi sinh vật mới, có khả năng nuôi dưỡng, tạo thành các chế phẩm sinh học nhằm giải quyết triệt để vấn đề chất ô nhiễm trong nước thải, rác thải mà công nghệ sinh học trước đây chưa làm được như kỹ thuật sinh học kỵ khí, hiếu khí.
Xử lý rác thải sinh hoạt
TS Tăng Thị Chính, Viện Công nghệ Môi trường, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam cho biết, trong quá trình ủ compost, khi nhiệt độ đống ủ tăng lên cao hơn 50oC , các vi sinh vật ưa ấm ngừng hoạt động hoặc chết đi, chỉ còn vi sinh vật ưa nhiệt tồn tại và phát triển. Các loài nấm (nấm mốc, nấm men, nấm sợi...) thường kém chịu nhiệt hơn, nên bị chết trong quá trình ủ ở nhiệt độ cao. Trong số các loại vi sinh vật thì vi khuẩn và xạ khuẩn có khả năng chịu nhiệt cao hơn, chúng tồn tại và phát triển suốt quá trình ủ. Vì vậy, Viện Công nghệ Môi trường đã tập trung nghiên cứu, phân lập và tuyển chọn các chủng vi sinh vật ưa nhiệt thuộc nhóm xạ khuẩn Streptomyces và vi khuẩn thuộc giống Bacillus để sản xuất chế phẩm vi sinh Biomix1. Ðây là tập hợp gồm mười chủng xạ khuẩn ưa nhiệt có tác dụng phân hủy mạnh các chất hữu cơ trong chất thải và bảo đảm là những chủng vi sinh vật không gây bệnh cho người và động vật, thực vật.
Chế phẩm Biomix1 đã đưa vào thử nghiệm đầu tiên ở nhà máy chế biến phế thải đô thị Hà Nội (Cầu Diễn), sau đó là ở Việt Trì và Thái Bình. Bể đối chứng là bể ủ theo quy trình của nhà máy. Kết quả nghiên cứu thu được cho thấy nếu sử dụng công nghệ thông thường của nhà máy thì thời gian xử lý hiếu khí (sử dụng máy thổi khí để cấp khí) kéo dài khoảng
45 ngày (nhiệt độ trong giai đoạn này thường hơn 50oC , nếu không được cấp khí) và có mùi hôi thối bốc ra từ bể ủ. Nhưng khi bổ sung thêm 30 kg chế phẩm Biomix1 cho một bể xử lý dung tích 150 m3 thì thời gian xử lý hiếu khí là 30 ngày và không có mùi hôi bốc lên. Kết quả phân tích thành phần mùn của các bể xử lý cho thấy, bể có bổ sung chế phẩm Biomix1 lượng mùn thu được nhiều hơn và chất lượng mùn cũng tốt hơn. Chế phẩm này hiện đang được cung cấp cho nhà máy xử lý rác thải sinh hoạt tại Việt Trì, Phú Thọ và Nhà máy xử lý rác thải Ðồng Xoài của Công ty CP đầu tư và phát triển công nghệ môi trường Bình Phước.
Xử lý phế thải nông Nghiệp ngoài đồng ruộng
Trước những yêu cầu bức thiết về bảo vệ môi trường và có thể tận dụng nguồn phế thải nông nghiệp để sản xuất phân bón hữu cơ, Viện Công nghệ và Môi trường đã tiến hành sử dụng chế phẩm Biomix1 để xử lý rơm, rạ và thân, lá các loại rau, dưa, dây bí, lạc, phân gia súc, gia cầm và các chất thải hữu cơ khác để sản xuất phân bón hữu cơ. Kết quả thực nghiệm cho thấy sau 30 ngày thì ở đống ủ có bổ sung vi sinh vật đã hoai mục, còn đống ủ không bổ sung vi sinh vật thì sau 60-80 ngày mới hoai mục và gãy vụn.
Cách ủ xử lý rơm, rạ, phế thải nông nghiệp tại ruộng sử dụng men vi sinh đã được tái sử dụng như một nguồn hữu cơ để cải tạo đất, giảm thiểu lượng phân bón hóa học, thay thế được toàn bộ lượng phân chuồng cần sử dụng, ngoài ra còn tiết kiệm được từ 1,2 đến 1,5 kg phân u-rê/sào và 1,5 kg phân ka-li/sào. Biện pháp ủ này còn giúp cho nông dân có ý thức bảo vệ môi trường và tiết kiệm chi phí cho sản xuất nông nghiệp. Ðây là mô hình đơn giản, dễ thực hiện, đầu tư ít, mang lại hiệu quả kinh tế cao và bảo vệ môi trường.
Hiện tại, Viện Công nghệ và Môi trường đã nghiên cứu, tuyển chọn và thu thập được một bộ sưu tập các chủng giống vi sinh vật có khả năng sinh tổng hợp các enzym ngoại bào cao, thích hợp cho sản xuất các loại chế phẩm vi sinh vật phục vụ cho nhiều loại ô nhiễm môi trường khác nhau.
![]()
(Tài liệu: báo Hóa học và Ứng dụng)
Hệ thỗng xử lý khí thải lò hơi từ dầu F.o
2013-12-30 10:08Ngày nay, với sự phát triển của nền kinh tế nhiều doanh nghiệp đã và đang phát triển, mở rộng quy mô hoạt động của mình, lượng khí thải , nước thải, hóa chất xả ra từ những doanh nghiệp gây ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường sống của chúng ta.

Việc xử lí khí thải đang là vấn để đáng quan tâm, nó nằm trong mức báo động toàn cầu, nắm bắt rõ tình hình đó nhiều Công ty môi trường đã được thành lập, trong đó có Công ty môi trường - Thảo Nguyên Xanh đã đi vào hoạt động lâu năm về lĩnh vực môi trường, sự khác biệt rõ rệt giữa Công ty môi trường Thảo Nguyên Xanh với những công ty môi trường khác đó là độ bền về thời gian, kinh nghiệm vả cả công nghệ xử lý cao.
Những dịch vụ phổ biến của Cơ khí môi trường công nghệ như: xử lí khí thải, xử lí nước thải, xử lý môi trường, lập dự án, tư vấn môi trường, v.v... Theo thống kê gần đây nhất của Bộ Tài Nguyên & Môi Trường sự biến đổi khí hậu toàn cầu bị ảnh hưởng lớn do lượng khí thải từ những phương tiện giao thông, nhà máy đang làm ảnh hưởng xấu tới môi trường sống trên toàn thế giới.
Xử lí khí thải đang là vấn đề nhức nhối của nhiều doanh nghiệp,Cơ khí môi trường công nghệ ra đời là để giải quyết những khó khăn đó cho doanh nghiệp. Chúng tôi chuyên nhận những dịch vụ xử lý môi trường, xử lí khí thải chuyên nghiệp nhất.
Cơ khí môi trường công nghệ luôn cập nhật những công nghệ tiên tiến nhất về xử lý môi trường, trong đó những công nghệ và phương pháp xử lí khí thải luôn được Thảo Nguyên Xanh xem xét và áp dụng một cách tối ưu nhất.
(Tổng hợp từ Internet-đã được xác thực)










