Biện pháp cải tạo
Công nghệ lên men mêtan xử lý nước thải làng nghề
2013-12-30 09:39Ngày 26/2, tại Hà Nội, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Viện Hóa học các hợp chất thiên nhiên, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Tổ chức Năng lượng mới và Phát triển kỹ nghệ công nghiệp NeDo Nhật Bản đồng tổ chức Hội thảo “Công nghệ lên men mêtan và xử lý nước thải”.
Hội thảo nhằm hợp tác nghiên cứu, đào tạo và phát triển hệ xử lý nước thải thích hợp với làng nghề giảm ô nhiễm và biến đổi khí hậu.
Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế Nguyễn Xuân Bảo Tâm cho rằng thông qua hỗ trợ điểm trực tiếp cho nghiên cứu xử lý nước thải làng nghề quy mô vừa và nhỏ, các đơn vị chuyên môn về kỹ thuật công nghệ môi trường có thể cùng nhau xây dựng lộ trình phát triển kỹ thuật và chuyển giao công nghệ thích hợp, trong khuôn khổ của Chương trình Viện trợ xanh của Chính phủ Nhật Bản cho Việt Nam, cũng như sử dụng các nguồn hỗ trợ khác, qua đó có thể nhân rộng các mô hình xử lý nước thải, góp phần giảm thiểu ô nhiễm và ngăn ngừa ô nhiễm tại các cơ sở sản xuất và doanh nghiệp, cải thiện chất lượng nước tại các lưu vực sông, đặc biệt các khu vực ô nhiễm trọng điểm.
Theo ông Masayuki Tsuchiya, phụ trách các dự án môi trường của Việt Nam, Dự án ứng dụng kỹ thuật môi trường của Nhật Bản giúp tìm ra giải pháp cải thiện môi trường ở Việt Nam, do vậy rất mong Chính phủ Việt Nam sẽ xây dựng hành lang pháp lý về quy chế pháp luật phù hợp tạo điều kiện cho Nhật Bản thực hiện chuyển giao công nghệ này.
Giới thiệu về công nghệ lên men mêtan và xử lý nước thải tại các làng nghề ở Việt Nam, ông Hirosi Taniuchi cho biết nước thải và chất hữu cơ sẽ được gom vào bể chứa để lên thành men mêtan sau đó mêtan khử sunphua được dùng làm nhiên liệu phát điện, nước thải ra tiếp tục đưa vào bồn chứa xử lý mức độ chấp nhận được rồi thải ra môi trường, bên cạnh đó chất thải rắn sau khi lên men có thể dử dụng làm phân bón nông nghiệp.
Ô nhiễm làng nghề hiện nay đang ở mức đáng báo động, kết quả khảo sát mới đây của Viện Khoa học và Công nghệ môi trường Đại học Bách khoa Hà Nội đưa ra những con số đáng lo ngại, đó là 100% mẫu nước thải ở các làng nghề có thông số vượt quá tiêu chuẩn cho phép; nước mặt, nước ngầm đều có dấu hiệu ô nhiễm./.
(Tài liệu: báo Hóa học và Ứng dụng)
Khử khí Cacbonic bằng…sắt
2013-12-30 09:36Các nhà khoa học sẽ thực hiện một dự án đổ ... sắt xuống biển nhằm giảm lượng khí CO2 trong bầu khí quyển Trái Đất.
Các nhà khoa học tại Trung tâm Hải dương học quốc gia thuộc Đại học Southampton (Anh) sẽ sử dụng tàu biển và máy bay để rải dung dịch sắt sunphát trên diện tích 10.000 km2 thuộc các vùng biển Nam Cực trong vòng 5 năm nhằm giảm lượng khí CO2 trong bầu khí quyển Trái Đất...
Lượng sắt này (dự kiến khoảng 600 tấn/năm) sẽ kích thích các loại tảo phát triển để chúng hấp thụ khí cácbonníc (CO2) – thủ phạm gây ra hiệu ứng nhà kính. Khi các loại tảo này chết đi, chúng chìm xuống đáy đại dương và lưu giữ khí CO2 dưới đáy biển hơn 50 năm.

Theo các tính toán khoa học, dự án có thể giúp hấp thụ hàng tỷ tấn khí CO2 mỗi năm, tương đương với 12% tổng lượng khí CO2 do con người tạo ra.
Nhiều doanh nghiệp ủng hộ dự án này, bởi nó kinh tế hơn nhiều so với việc họ phải tìm cách cắt giảm lượng khí CO2 thải vào môi trường.
Trước đó, việc thử nghiệm dự án “rải sắt trên biển” ở quy mô nhỏ đã thu được những thành công ban đầu. Tuy nhiên, các nhà khoa học cũng còn e ngại dự án kiểu này sẽ gây ra những tác dụng phụ với một số loài sinh vật biển.
(Tài liệu: báo Hóa học và Ứng dụng)
Công nghệ IGCC giúp giảm khí thải cacbonic
2013-12-30 09:33Nhật báo China Daily của Trung Quốc ngày 24-2 cho biết nhà máy điện chạy bằng than đá kiểu mới do chính nước này nghiên cứu sẽ bắt đầu hoạt động từ năm 2011.
Nhà máy được thiết kế theo công nghệ tích hợp khí hóa (IGCC) đặt tại thành phố Thiên Tân với chi phí 2,1 tỷ nhân dân tệ (hơn 300 triệu USD) được khởi công từ tháng 7-2009. Khi hoàn thành, nó được xem là một trong những nhà máy có công nghệ IGCC tiên tiến trên toàn cầu với 99% tỷ lệ khử lưu huỳnh, do đó lượng khí thải CO2 và hợp chất nitrogen oxide sẽ được giảm thiểu.
IGCC có lợi thế là sử dụng triệt để cả khí và hơi nước trong quá trình đốt than đá để chạy máy phát điện.
Theo ông Wu Ruosi, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Huaneng, đơn vị triển khai dự án này, nếu so sánh một nhà máy điện chạy bằng than đá thông thường công suất 300.000 KW/giờ với một nhà máy công nghệ IGCC với công suất 250.000 KW/giờ, cùng tiêu thụ cùng một lượng 70.000 tấn than đá mỗi năm, lượng khí thải CO2 của nhà máy sử dụng công nghệ IGCC chỉ bằng 1/10 so với nhà máy thông thường.
Hiện Tập đoàn Huaneng đang hợp tác với 7 tập đoàn nhà nước khác của Trung Quốc thành lập công ty chuyên áp dụng công nghệ IGCC nhằm đóng góp vào mục tiêu cắt giảm khí thải CO2 gây biến đổi khí hậu toàn cầu.
![]()
(Tài liệu: báo Hóa học và Ứng dụng)
Bra-xin phát minh phương pháp mới hấp thụ khí thải công nghiệp
2013-12-30 09:32Các nhà hóa học thuộc Đại học Liên bang Minas Gerais của Bra-xin vừa tuyên bố phát minh một phương pháp mới hấp thụ khí thải CO2 từ các cơ sở công nghiệp bằng cách lắp đặt các hạt lọc bằng sứ vào ống khói của các nhà máy này.
Giáo sư hóa học Giê-ran-đô Ma-giê-la Li-na (Geraldo Migela Lina) cho biết các hạt lọc có màu trắng và đường kính khoảng 0,5 cm, hấp thụ CO2 qua một phản ứng hóa học ở nhiệt độ cao. Tốc độ hấp thụ phụ thuộc vào yếu tố nhiệt độ.

Phương pháp này có nhiều ưu điểm. Thứ nhất là lượng khí CO2 hấp thụ lớn. Các hạt lọc này có khả năng hấp thụ tới 40% lượng khí tiếp xúc bề mặt với chúng và nhóm nghiên cứu đang cố gắng nâng tỷ lệ này lên 60%. Đây là chỉ số cao so với các phương pháp thông dụng hiện tại, thường có tỷ lệ hấp thụ 12 - 20 %. Thứ hai là hạt lọc hấp thụ CO2 trước khi loại khí gây hiệu ứng nhà kính này tiếp xúc với không khí. Thứ ba là các hạt sứ sau khi đã hấp thụ bão hòa có thể xử lý hóa học để tái sử dụng, hoặc dùng làm nguyên liệu trong các ngành hóa chất, sản xuất nhựa hoặc dệt may. Một hạt lọc có thể sử dụng 10 lần trước khi thải loại, và nhờ đó công nghệ này được coi là có giá thành thấp.
Biện pháp này có thể áp dụng cho các nhà máy luyện kim, nhà máy sản xuất xi măng, nhà máy nhiệt điện, hoặc các cơ sở công nghiệp nhỏ sử dụng chất đốt như lò bánh mì v.v…
Hiện tại công thức hóa học của loại sứ đặc chủng này vẫn được giữ bí mật và đang trong giai đoạn xin cấp phép. Các nhà nghiên cứu cũng cho biết tỷ lệ giữa khối lượng chất liệu lọc và khối lượng CO2 được hấp thụ còn tùy thuộc vào cấu trúc từng nhà máy, nhưng dao động khoảng 1 kg hạt lọc/500g CO2.
Bra-xin là một trong những nước thải ra khối lượng khí gây hiệu ứng nhà kính cao nhất thế giới với khoảng 2 tỷ tấn/năm, trong đó 25 % là từ các cơ sở sản xuất công nghiệp.
(Tổng hợp Internet-đã được xác thực)
Biến khí thải độc hại thành vô hại bằng kỹ thuật oxy hóa khử
2013-12-30 09:31

Đó là công trình nghiên cứu vừa được công bố của Tiến sĩ Lê Văn Tiệp (Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia - TP HCM). Thiết bị xử lý này phù hợp với các lò đốt rác thải y tế, công nghiệp, và có thể gắn vào ống xả xe hơi, xe gắn máy...
Công trình nghiên cứu của Tiến sĩ Lê Văn Tiệp (Phân viện Khoa học vật liệu tại TP HCM, thuộc Trung tâm KHTN và CNQG) có tên Khử ôxit nitơ trên xúc tác với sự có mặt của hydro carbon trong hỗn hợp phản ứng. Ôxit nitơ, với hơn 90% là NO và NO2 (ký hiệu là NOx) là những chất khí độc gây hại cho sức khỏe con người, một trong những tác nhân gây mưa axit và phá hủy tầng ozone của khí quyển. Nguồn chính tạo thành ôxit nitơ là các động cơ đốt trong và các lò đốt làm việc ở nhiệt độ cao.
Theo Tiến sĩ Tiệp, trong khi những tiến bộ khoa học trên thế giới đã giúp loại lưu huỳnh khỏi dầu mỏ, làm giảm SO2, thì ô nhiễm ôxit nitơ - một dạng nguy hiểm không kém, đang trở nên nghiêm trọng và chưa có biện pháp loại trừ tận gốc. Mặt khác, so với các khí độc hại khác như ôxit carbon, hydro carbon, muội than... thì ôxit nitơ khó xử lý hơn. Ở nước ta tới nay, kể cả công trình của Tiến sĩ Tiệp, mới chỉ có hai nghiên cứu trong lĩnh vực này.
Thông thường, người ta xử lý khí thải bằng hấp phụ (dùng than hoạt tính) hoặc hấp thụ (dùng nước hoặc một dung dịch nước) để giữ lại các chất độc. Cách này có hạn chế là không triệt để, chỉ có tác dụng nhất thời mà thực ra các chất độc vẫn còn nguyên, không hề bị thay đổi tính chất hóa học. Hơn nữa, các chất hấp phụ nhanh chóng mất hoạt tính do đã bão hòa, và không còn tác dụng loại bỏ chất độc nữa. Nguy hại hơn nữa là phương pháp này đã chuyển chất thải khí thành chất thải rắn và lỏng, gây ô nhiễm đất và nguồn nước. Phương pháp của Tiến sĩ Tiệp khắc phục được những nhược điểm trên: Ông dùng phản ứng oxy hóa khử để biến khí độc thành không độc.
Cụ thể của việc xử lý này có hai nội dung:
1. Chuyển C, CO, COV (hợp chất hữu cơ bay hơi) về CO2 độc bằng phản ứng ôxy hóa, nghĩa là đốt cháy với sự có mặt của ôxy;
2. Chuyển NOx về oxy và nitơ, là phản ứng khử ngược lại với phản ứng trên.
Hai quá trình này phải thực hiện đồng thời. Vì thế, phải tìm một "khoảng" cho phép để chỉnh nồng độ ôxy sao cho cả hai quá trình đều cùng thực hiện được, đồng thời tìm chất xúc tác thích hợp. Cả hai việc đều đòi hỏi đầu tư nhiều thời gian và nhiều phương tiện đặc chủng hiện đại. Chính vì thế, ở Việt Nam rất khó làm, lĩnh vực này hầu như còn bỏ ngỏ.
Theo Tiến sĩ Tiệp, việc áp dụng kết quả nghiên cứu này vào thực tế không đòi hỏi vốn đầu tư lớn, đáp ứng tiêu chuẩn Việt Nam, rất phù hợp cho các lò đốt rác thải y tế, lò đốt rác thải công nghiệp. Nhiều đơn vị đã đến đặt hàng lắp ráp thiết bị khử ở Phân viện Khoa học vật liệu, trong đó có: Bệnh viện Sóc Trăng, Trung tâm Lao và bệnh phổi Tiền Giang, Nhà máy Nông dược Tiền Giang... Thiết bị xử lý khí thải bằng xúc tác do Phân viện chế tạo cũng rất phù hợp cho nhiều loại xe, kể cả xe gắn máy. Tiến sĩ Tiệp cho biết, các nước trên thế giới đều có ống xả xúc tác xử lý khí thải xe hơi, cho nên họ không phải... bịt mặt khi ra đường như ở ta.
(Tài liệu: báo Hóa học và Ứng dụng)
Bọt nano có thể ngăn chặn sự rò rỉ của khí cacbonic
2013-12-30 09:30

Chôn lấp CO2 sâu dưới lòng đất là một giải pháp cho tình trạng biến đổi khí hậu, nhưng việc giữ cho khí không “sủi” lên trên mặt đất lại tỏ ra khó khăn. Việc bơm các hạt nano vào trong các bể chứa dưới lòng đất trước khi các bể chứa được bơm đầy CO2 có thể thúc đẩy sự hàn gắn bất cứ vết rò rỉ nào.
Khi CO2 tăng nhanh qua các vết nứt trong đá gốc, loại khí áp lực cao này đóng vai trò như một chất lỏng và biến thành các giọt nhỏ. Steven Bryant, kỹ sư tại Đại học Texas ở Austin cho biết các hạt nano silica phủ polyethylene glycol sẽ liên kết với các giọt nước tạo thành bọt nhớt, ngăn cản các vết rò rỉ giống như các lớp phủ bên trong trên một loại lốp tự hàn gắn.
Trong các thử nghiệm, ông Steven đã sử dụng n-octan, một chất lỏng giữ vai trò như CO2 siêu tới hạn cho thấy bọt hình thành và bịt kín các vết nứt trong đá. Các kết quả nghiên cứu đã được trình bày tại Diễn đàn của Trung tâm nghiên cứu năng lượng thuộc Bộ Năng lượng Hoa Kỳ tại Washington DC ngày 26/05/2011. Nhóm nghiên cứu hiện nay lập kế hoạch tiến hành các thử nghiệm sử dụng CO2 siêu tới hạn.
(Tài liệu: báo Hóa học và Ứng dụng)










