Tác nhân gây hại
Khí Cacbonic trong khí quyển tồn tại và ảnh hưởng như thế nào?
2013-12-29 20:05Hàng năm, một lượng lớn khí cacbonic (CO2) sinh ra trên trái đất, trong đó CO2 có nguồn gốc tự nhiên (núi lửa phun trào, sự phát thải của sinh vật…) là 600.000 triệu tấn, và có nguồn gốc từ hoạt động của con người (đốt nhiên liệu trong hoạt động sản xuất và đời sống) là 22.000 triệu tấn.
Tuy sinh ra nhiều như vậy, nhưng sẽ có một lượng CO2 tương đương chuyển hoá sang dạng khác và tồn tại một cân bằng trong tự nhiên, các cân bằng này có liên kết mật thiết với các quá trình trên mặt đất, mặt biển và trong sinh vật.
Như vậy, ngược lại với các quá trình phát sinh CO2, còn có quá trình “tiêu diệt CO2”. Đó là các quá trình quang hợp ở thực vật, quá trình hoà tan CO2 của nước (chủ yếu là nước biển), sự lắng đọng xác sinh vật giầu các bon (các loại vỏ đá vôi của sinh vật) và sự tạo thành hoá thạch…

Theo tính toán của các nhà khoa học CO2 sau khi hình thành trong khí quyển (dù có nguồn gốc tự nhiên hay nhân tạo) đều có thể tồn tại từ 2 đến 4 năm. Trong thời kỳ tồn tại, CO2 đủ thời gian để phát tán suốt dọc vùng xích đạo và ảnh hưởng chung đến bầu khí quyển trái đất và gây ra hiệu ứng nhà kính, hấp thụ mạnh tia hồng ngoại.
Theo dự báo của các nhà khoa học, vào năm 2050 nồng độ CO2 trong khí quyển sẽ vượt 0,06% thể tích (khoảng 10000 ppm), vào vào năm 2200 con số này sẽ là 0,07% thể tích (hiện tại là 0,035% thể tích hay 5.800 ppm) nếu như con người không có biện pháp giảm thải CO2.
Khi nồng độ CO2 trong khí quyển tăng cao hơn nữa, có thể khí hậu sẽ có nhiều thay đổi bất lợi cho sự phát triển của nền kinh tế thế giới và đe doạ sự sinh tồn của con người.
(Tài liệu: có thể e chưa biết)
Các khí nào gây ô nhiễm không khí
2013-12-29 20:04Đa số người ta vẫn nghĩ nhiều nước bị ô nhiễm mà chưa nghĩ tới việc không khí cũng bị ô nhiễm. Trong quá trình hoạt động thì con người làm phát sinh ra các khí gây ô nhiễm môi trường, đó là : CO2, SO2, CO, N2O, CFC và CH4…..
- Thông thường CO2 trong không khí với hàm lượng 0,03% là nguyên liệu cho quang hợp để tạo thành năng suất sơ cấp. Con người đốt nhiên liệu hóa thạch và phá rừng làm gia tăng CO2, khí hậu thay đổi.
- Khí SO2 là khí gây ô nhiễm không khí chủ yếu ở tầng đối lưu. Được sinh ra do: núi lửa hoạt động, đốt nhiên liệu than, dầu, khí đốt, sinh khối… SO2 rất độc cho con người và sinh vật. Gây bệnh phổi, phế quản. Trong không khí tác dụng với hơi nước, rơi xuống đất gây mưa axits. Khí này thường thấy ở các công ty sản xuất may mặc, nhà máy nhôm,…công ty chúng tôi chuyên xử lí khí thải SO2 này.

- CO hình thành do đốt không hết nhiên liệu than, dầu, chất hữu cơ. khí thải từ động cơ ô tô, xe máy, là nguồn gây ô nhiễm CO chủ yếu ở thành phố, Khí CO với nồng độ khoảng 250ppm sẽ gây tử vong cho người, hằng năm trên toàn thế giới sản sinh khoảng 600 triệu tấn CO.
- Khí N2O là khí gây hiệu ứng nhà kính, được sinh ra trong quá trình đốt nhiên liệu hóa thạch, hàm lượng của nó tăng dần trên phạm vi toàn cầu, hàng năm khoảng từ 0,2-3%. Một lượng nhỏ N2O cũng được sinh ra cho việc sử dụng phân bón vô cơ và hữu cơ…
(Tài liệu: có thể e chưa biết)
Khí thải Lọc dầu Dung Quất gây ô nhiễm môi trường
2013-12-29 20:04Từ ngày 19 đến 23/10, nhiều cán bộ, nhân dân khu vực phía Nam Nhà máy lọc dầu Dung Quất thuộc xã Bình Trị, huyện Bình Sơn (Quảng Ngãi) rất bức xúc với lượng khí thải có Lưu huỳnh điôxít (SO2) tại Nhà máy lọc dầu Dung Quất, gây ô nhiễm môi trường sống khu vực phía Nam nhà máy, làm cho nhiều người có hiện tượng ngạt thở do mùi lưu huỳnh rất khó chịu, có người ngất xỉu.
Trước sự việc trên, Trung tâm kỹ thuật quan trắc môi trường (Ban quản lý Khu kinh tế Dung Quất) đã lấy 3 mẫu khí xung quanh tại 3 địa điểm khác nhau để xác định lượng khí lưu huỳnh điôxít trong không khí do nhà máy lọc dầu thải ra.
Theo kết quả thử nghiệm của Trung tâm kỹ thuật quan trắc môi trường ngày 22/10, tại phiếu thử nghiệm số 295/1/MTN-QTPT, loại mẫu: khí xung quanh, nguồn gốc: Trước cổng Trung tâm kỹ thuật quan trắc môi trường tại Trung tâm đô thị Vạn Tường - xã Bình Trị, huyện Bình Sơn (cách nhà máy khoảng 2,5 km - phía Nam), ngày quan trắc 20/10, ngày thí nghiệm 20-21/10, kết quả qua phương pháp thử/thiết bị đo theo TCVN 5771: 1995 cho thấy thông số lưu huỳnh điôxit (SO2) trong không khí có 789,13 µg/m3 (Mirogam/mét khối), vượt hơn 439 µg/m3 (Microgam/mét khối) - tiêu chuẩn Việt Nam cho phép 350 µg/m3.
Tương tự, tại phiếu thử nghiệm số 295/2, trung tâm lấy khí xung quanh trước trụ sở Ủy ban Nhân dân xã Bình Trị (cách nhà máy khoảng 2km về phía Tây-Nam) kết quả cho thấy lượng lưu huỳnh điôxit trong không khí chiếm 406,02 µg/m3 (Microgam/mét khối), vượt mức cho phép 51 µg/m3 và tại phiếu thử nghiệm số 295/3, trung tâm lấy khí xung quanh tại ngã ba thôn Lệ Thủy, xã Bình Trị (cách nhà máy khoảng 3,5 km về phía Đông-Nam), kết quả lượng lưu huỳnh điôxit chiếm 424,5 µg/m3 (Microgam/mét khối), vượt mức cho phép 74,5 µg/m3.
Như vậy, tại tất cả 3 điểm lấy mẫu thử nghiệm lượng lưu hùynh điôxit do nhà máy lọc dầu thải ra đều vượt mức cho phép, riêng tại khu vực trung tâm đô thị Vạn Tượng lượng SO2 vượt mức 125% so với mức tiêu chuẩn Việt Nam.
Theo phản ánh của người dân địa phương, đây không phải là lần đầu tiên Nhà máy lọc dầu Dung Quất thải khí lưu huỳnh điôxit. Trước đây, nhà máy đã thải nhiều lần nhưng do thời tiết nắng, gió, khí SO2 bay thoát nhanh, trong đợt thải này gặp không khí ẩm, mây nhiều và có gió mùa Đông-Bắc vào nên lượng SO2 không thoát nhanh được làm ảnh hưởng lớn đến môi trường xung quanh, nhất là khu vực phía Nam nhà máy lọc dầu.
Thông qua việc thải xả khí lưu huỳnh điôxit này, nhiều người dân sinh sống xung quanh nhà máy lọc dầu kiến nghị nhà máy có giải pháp thích hợp thu hồi chất SO2 hoặc thải khí vào thời điểm thích hợp để hạn chế tối đa ảnh hưởng đến đời sống của hàng vạn cán bộ, nhân dân trên địa bàn Khu Kinh tế Dung Quất.
(Tài liệu tổng hợp từ internet - đã được xác thực)
Tác hại của ô nhiễm không khí
2013-12-29 20:03 Hằng năm có khoảng 20 tỉ tấn CO2 + 1,53 triệu tấn SiO2 + Hơn 1 triệu tấn Niken + 700 triệu tấn bụi + 1,5 triệu tấn Asen + 900 tấn coban + 600.000 tấn Kẽm (Zn), hơi Thuỷ ngân (Hg), hơi Chì (Pb) và các chất độc hại khác. Làm tăng đột biến các chất như CO2, NOx, SO3 …
Các chất ô nhiễm phát xuất từ nhiều nguồn khác khau; ô nhiễm không khí rất khó phân tích vì chất ô nhiễm thay đổi nhiều do điều kiện thời tiết và địa hình; nhiều chất còn phản ứng với nhau tạo ra chất mới rất độc.
=> ảnh hưởng đến môi trường đa dạng và phong phú. Vì vậy,xử lí khí thải là điều rất cần thiết.
TÁC HẠI CỦA Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ ĐỐI VỚI CON NGƯỜI
.jpg)
1. TÁC HẠI CỦA BỤI
- Thành phần hóa học, thời gian tiếp xúc là các yếu tố ảnh hưởng đến các cơ quan nội tạng.
- Mức độ bụi trong bộ máy hô hấp phụ thuộc vào kích thước, hình dạng, mật độ hạt bụi và cá nhân từng người.
- Bụi vào phổi gây kích thích cơ học, xơ hóa phổi dẫn đến các bệnh về hô hấp như khó thở, ho và khạc đờm, ho ra máu, đau ngực …
- TCVN 2005 qui định bụi tổng cộng trong không khí xung quanh 0,5 mg/m3.
- Bụi đất đá không gây ra các phản ứng phụ: tính trõ, không có tính gây độc. Kích thước lớn (bụi thô), nặng, ít có khả năng đi vào phế nang phổi, ít ảnh hưởng đến sức khỏe.
- Bụi than: thành phần chủ yếu là hydrocacbon đa vòng (VD: 3,4-benzenpyrene), có độc tính cao, có khả năng gây ung thư, phần lớn bụi than có kích thước lớn hơn 5 micromet bị các dịch nhầy ở các tuyến phế quản và các lông giữ lại. Chỉ có các hạt bụi có kích thước nhỏ hơn 5 mm vào được phế nang.
2. TÁC HẠI CỦA SO2 VÀ NOx
SO2, NOx là chất kích thích, khi tiếp xúc với niêm mạc ẩm ướt tạo thành axít (HNO3, H2SO3, H2SO4). Các chất khí trên vào cơ thể qua đường hô hấp hoặc hòa tan vào nước bọt rồi vào đường tiêu hoá, sau đó phân tán vào máu tuần hoàn.
Kết hợp với bụi => bụi lơ lửng có tính axít, kích thước < 2-3µm sẽ vào tới phế nang, bị đại thực bào phá hủy hoặc đưa đến hệ thống bạch huyết.
- SO2 nhiễm độc qua da làm giảm dự trữ kiềm trong máu, đào thải amoniac ra nước tiểu và kiềm ra nước bọt.
- Độc tính chung của SO2 thể hiện ở rối loạn chuyển hóa protein và đường, thiếu vitamin B và C, ức chế enzym oxydaza.
- Giới hạn phát hiện thấy bằng mũi SO2 từ 8 – 13 mg/m3.
- Giới hạn gây độc tính của SO2 là 20 – 30 mg/m3, giới hạn gây kích thích hô hấp, ho là 50mg/m3.
- Giới hạn gây nguy hiểm sau khi hít thở 30 – 60 phút là từ 130 đến 260mg/m3.
- Giới hạn gây tử vong nhanh (30’ – 1h) là 1.000-1.300mg/m3.
- Tiêu chuẩn cho phép của Bộ Y Tế Việt Nam đối với SO2, SO3, NO2 là 0,5; 0,3 và 0,085 mg/m3 (nồng độ tối đa 1 lần nhiễm).
3. TÁC HẠI CỦA HF
HF sinh ra do quá trình sản xuất hóa chất (HF) và là một tác nhân ô nhiễm quan trọng khi nung gạch ngói, gốm sứ.
Không khí bị ô nhiễm bởi HF và các hợp chất fluorua gây ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống sinh vật và sức khoẻ của người. Các hợp chất fluorua gây ra bệnh fluorosis trên hệ xương và răng.
4. TÁC HẠI CỦA CO
.jpg)
Ôxít cacbon (CO) kết hợp với hemoglobin (Hb) trong máu thành hợp chất bền vững là cacboxy hemoglobin (HbCO) làm cho máu giảm khả năng vận chuyển ôxy dẫn đến thiếu ôxy trong máu rồi thiếu ôxy ở các tổ chức.
5. AMONIAC (NH3)
- NH3 không ăn mòn thép, nhôm, tan trong nước gây ăn mòn kim loại màu: kẽm, đồng và các hợp kim của đồng. NH3 tạo với không khí một hỗn hợp có nồng độ trong khoảng từ 16 đến 25% thể tích sẽ gây nổ.
- NH3 là khí độc có khả năng kích thích mạnh lên mũi, miệng và hệ thống hô hấp.
- Ngưỡng chịu đựng đối với NH3 là 20 – 40 mg/m3.
- Tiếp xúc với NH3 với nồng độ 100 mg/m3 trong khoảng thời gian ngắn sẽ không để lại hậu qủa lâu dài.
- Tiếp xúc với NH3 ở nồng độ 1.500 – 2.000 mg/m3 trong thời gian 30’ sẽ nguy hiểm đối với tính mạng.
6. HYDRO SUNFUA (H2S)
- Phát hiện dễ dàng nhờ vào mùi đặc trưng.
- Xâm nhập vào cơ thể qua phổi, H2S bị oxy hoá => sunfat, các hợp chất có độc tính thấp. Không tích lũy trong cơ thể. Khoảng 6% lượng khí hấp thụ sẽ được thải ra ngoài qua khí thở ra, phần còn lại sau khi chuyển hóa được bài tiết qua nước tiểu.
- Ở nồng độ thấp, H2S có kích thích lên mắt và đường hô hấp.
- Hít thở lượng lớn hỗn hợp khí H2S, mercaptan, ammoniac… gây thiếu oxy đột ngột, có thể dẫn đến tử vong do ngạt.
- Dấu hiệu nhiễm độc cấp tính: buồn nôn, rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy, mũi họng khô và có mùi hôi, mắt có biểu hiện phù mi, viêm kết mạc nhãn cầu, tiết dịch mủ và giảm thị lực.
- Sunfua được tạo thành xâm nhập hệ tuần hoàn tác động đến các vùng cảm giác – mạch, vùng sinh phản xạ của các thần kinh động mạch cảnh.
- Thường xuyên tiếp xúc với H2S ở nồng độ dưới mức gây độc cấp tính có thể gây nhiễm độc mãn tính. Các triệu chứng có thể là: suy nhược, rối loạn hệ thần kinh, hệ tiêu hóa, tính khí thất thường, khó tập trung, mất ngủ, viêm phế quản mãn tính…
7. TÁC HẠI CỦA HYDROCACBON
- Hơi dầu có chứa các chất hydrocacbon nhẹ như metan, propan, butan, sunfua hydro.
- Giới hạn nhiễm độc của các khí như sau:
Metan 60-95 %
Propan 10 %
Butan 30 %
Sulfua hydro 10 ppm
- Tiêu chuẩn của Bộ Y Tế Việt Nam năm 1977 qui định tại nơi lao động: dầu xăng nhiên liệu là 100mg/m3, dầu hỏa là 300mg/m3. TCVN 5938-2005 qui định nồng độ xăng dầu trong không khí xung quanh tối đa trong 1 giờ là 5mg/m3.
- Nồng độ hơi xăng, dầu từ 45% (thể tích) trở lên sẽ gây ngạt thở do thiếu ôxy. Triệu chứng nhiễm độc như say, co giật, ngạt, viêm phổi, áp xe phổi.4
- Dầu xăng ở nồng độ trên 40.000 mg/m3 có thể bị tai biến cấp tính với các triệu chứng như tức ngực, chóng mặt, rối loạn giác quan, tâm thần, nhức đầu, buồn nôn, ở nồng độ trên 60.000 mg/m3 sẽ xuất hiện các cơn co giật, rối loạn tim và hô hấp, thậm chí gây tử vong.
- Người nhạy cảm xăng dầu: tác động trực tiếp lên da (ghẻ, ban đỏ, eczema, bệnh nốt dầu, ung thư da).
- Các hydrocacbon mạch thẳng như dung môi naphta; các hydrocacbon mạch vòng như cyclohexan; các hydrocacbon mạch vòng thơm như benzen, toluen, xylen; các dẫn xuất của hydrocacbon như cyclohexanol, butanol, axeton, etyl acetat, butyl acetat, metyletyl xeton (MEK) và các dẫn xuất halogen.
- Các hợp chất hữu cơ bay hơi (THC): Dưới ánh sáng mặt trời, các THC với NOx tạo thành ozon hoặc những chất oxy hóa mạnh khác. Các chất này có hại tới sức khỏe (rối loạn hô hấp, đau đầu, nhức mắt), gây hại cho cây cối và vật liệu.
8. TÁC HẠI CỦA FORMALDEHYDE
- Formaldehyde với nồng độ thấp kích thích da, mắt, đường hô hấp, ở liều cao có tác động toàn thân, gây ngủ
- Nhiễm theo đường tiêu hoá với liều lượng cao hơn 200mg/ngày sẽ gây nôn, choáng váng.
- Người bị nhiễm độc mãn tính có tổn thương rất đặc trưng ở móng tay: móng tay màu nâu, mềm ra, dễ gẫy, viêm nhiễm ở xung quanh móng rồi mưng mủ.
- Nồng độ tối đa cho phép của hơi formaldehyde trong không khí là 0,012mg/m3 (TCVN 5938-1995), trong khí thải là 6 mg/m3.
- Tổ chức Y tế Thế giới: nồng độ giới hạn formandehyde là 100 mg/m3 trong không khí với thời gian trung bình 30phút.
(Tài liệu tổng hợp từ internet - đã được xác thực)
Nước thải sinh hoạt gây ô nhiễm sông Sài Gòn
2013-12-29 20:02Đây cũng là kết quả nghiên cứu hơn một năm của các chuyên gia Tây Ban Nha trong dự án do Chính phủ Tây Ban Nha tài trợ - dự án kiểm soát nguồn thải phân tán dọc sông Sài Gòn.

Thủ phạm chính: Nước thải sinh hoạt
Tuy nhiên, điều đáng lo nhất là nước thải khu vực dân cư mà cụ thể là nước thải sinh hoạt nhiễm phân và nước chảy tràn đô thị. Hiện diện tích bê tông hóa của thành phố ngày càng lớn nên lượng nước mưa không thể thẩm thấu xuống đất. Thay vào đó, lượng nước này chảy tràn kéo theo tất cả chất thải trên bề mặt đất xuống kênh rạch dẫn ra sông. Còn chất thải phát sinh từ khu vực dân cư do các bể phốt hoạt động không hiệu quả hoặc không qua các bể phốt thải hết ra sông đang khiến cho nguồn nước sông ô nhiễm khá nặng. Kết quả phân tích mẫu chất thải nước sông Sài Gòn cho thấy, nồng độ vi sinh luôn luôn ở mức cao vượt tiêu chuẩn cho phép từ vài chục đến vài trăm lần. Kế đến là chất COD, BOD. Kết quả này cũng đồng nhất với kết quả đánh giá của Viện Môi trường và Tài nguyên, Đại học Quốc gia TPHCM.
Xử phạt nghiêm những vi phạm
Để khắc phục tình trạng ô nhiễm sông Sài Gòn, ông Tomas, đại diện Công ty IDOM, cho biết, cần phải thiết lập các trạm kiểm soát và tiêu chí về chất lượng nước sông. Muốn làm được điều này rất cần hành lang pháp lý. Quan trọng hơn cần xử lý những khu vực ô nhiễm về nước thải, rác thải, nguồn thải ô nhiễm. Cụ thể, phải xử lý triệt để những đơn vị bị phát hiện vi phạm xả thải; dự trù tài chính xây dựng hệ thống kiểm soát tiêu chí xả thải; kết nối nguồn thải của các cơ sở sản xuất nhỏ vào hệ thống xử lý nước thải chung của thành phố; cập nhật giấy phép xả thải kết hợp với giới hạn mới đối với các chất thải ô nhiễm đặc thù tùy theo các mục tiêu và chất lượng môi trường tiếp nhận; tuân thủ nghiêm ngặt với giấy phép xả thải. Với ô nhiễm từ hoạt động sản xuất nông nghiệp quan trọng nhất là cần trang bị kiến thức cho nông dân để tạo thói quen tốt về sử dụng hợp lý lượng phân bón, canh tác đúng cách và giảm thiểu tối đa lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật.
(Tài liệu tổng hợp từ internet - đã được xác thực)
Ô nhiễm môi trường trong hoạt động giao thông
2013-12-29 20:02Phương tiện giao thông góp phần quan trọng vào quá trình phát triển của xã hội, mặt khác lại gây ra những tác động xấu đến môi trường, gây nguy hại cho sức khoẻ của con người và làm suy giảm chất lượng cuộc sống đô thị. Do đó, cần có những giải pháp cấp bách, nhằm hạn chế ô nhiễm giao thông, góp phần giảm mức độ ô nhiễm không khí đô thị, gìn giữ sức khỏe cho con người.
Trong quá trình hoạt động các phương tiện giao thông phát thải vào không khí một khối lượng lớn các loại khói, khí độc như CO, CO2, hydrocacbon, NO2, SO2, khói đen, chì và các dạng hạt khác. Theo số liệu thống kê của Tổng cục Môi trường, các chỉ số ô nhiễm khói bụi đã vượt quá quy chuẩn cho phép, như hàm lượng bụi cao hơn 1-2 lần.

Hoạt động giao thông chiếm tới gần 85% lượng khí cacbon monoxit có khả năng gây nhiễm độc cấp và nhiều chất độc hại khác. Trong khi đó, các nguồn thải khí gồm: hoạt động sản xuất công nghiệp, hoạt động khai thác khoáng sản, hoạt động xây dựng, khí thải do các ngành khác và hoạt động dân sinh chỉ chiếm một tỉ lệ tương đối về khí thải gây ô nhiễm không khí khu vực nội thành. Điều này cho thấy, ô nhiễm môi trường từ phương tiện giao thông hiện nay đang là một trong những tác nhân lớn nhất, gây ảnh hưởng xấu đến chất lượng môi trường không khí.
Theo nhận định của Tổng cục Môi trường “Ô nhiễm môi trường không khí hiện nay không những tác động xấu tới sức khỏe của con người, thiệt hại về kinh tế mà còn ảnh hưởng đến biến đổi khí hậu. Nhiều chương trình nghiên cứu cũng đã cho thấy biến đổi khí hậu không chỉ thuần túy do tác động của tự nhiên mà còn do tác động của con người thông qua việc sử dụng các loại nhiên liệu hóa thạch trong sản xuất công nghiệp, giao thông, vận tải, nông nghiệp, kéo theo lượng phát thải khí nhà kính CO2 không ngừng gia tăng nhanh, góp phần gây nên biến đổi khí hậu”.
Nhìn chung diễn biến chất lượng môi trường không khí tỷ lệ thuận với số lượng phương tiện giao thông tham gia trên đường. Để thực hiện mục tiêu: Kiểm soát, phòng ngừa, hạn chế gia tăng ô nhiễm, hướng tới xây dựng hệ thống giao thông vận tải bền vững, thân thiện môi trường. Cần triển khai thực hiện các giải pháp chủ yếu sau đây:
- Tổ chức quản lý, kiểm tra khí thải phương tiện cơ giới đường bộ theo các tiêu chuẩn đã ban hành; tổ chức quản lý phát thải khí gây ô
- Quản lý và giảm thiểu chất thải lỏng gây ô nhiễm do hoạt động giao thông vận tải; đặc biệt quan tâm đến việc quản lý nước dằn tàu của các phương tiện vận tải biển; nước thải sinh hoạt do hoạt động giao thông vận tải đường sắt, đường thủy nội địa.
- Quản lý, xử lý đúng kỹ thuật, đảm bảo vệ sinh chất thải do hoạt động giao thông vận tải: rác thải sinh hoạt do hoạt động giao thông vận tải, chất thải rắn trong xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông.
- Quản lý các thành phần gây ô nhiễm khác: bụi, tiếng ồn, độ rung, … Đặc biệt quan tâm đến việc kiểm soát bụi PM10 và tiếng ồn do hoạt động giao thông vận tải tại các đô thị.
- Cải thiện cơ sở hạ tầng giao thông, quy hoạch phát triển mạng lưới giao thông đồng bộ việc quy hoạch đô thị.
- Cần phát triển mạnh, tăng hoạt động của các phương tiện giao thông công cộng (như xe buýt, xe điện ngầm, xe điện trên cao ).
- Khuyến khích các phương tiện chạy bằng năng lượng sạch (xăng sinh học).
- Xây dựng hệ thống quan trắc đồng bộ, kiểm tra, giám sát định kỳ việc tuân thủ các tiêu chuẩn phát thải đối với các phương tiện giao thông.
- Tăng cường năng lực quản lý môi trường cấp thành phố và cấp quận, huyện, xã, phường, thị trấn.
- Tập trung nâng cao nhận thức về môi trường của người dân, đặc biệt đối với vấn đề ô nhiễm không khí.
(Tài liệu tổng hợp từ internet - đã được xác thực)










