Hóa học và sức khỏe

Các chất hoá học trong tỏi có tác dụng chữa bệnh như thế nào?

2013-12-29 16:02

    Hành và tỏi là những gia vị cho nhiều món ăn nhưng từ lâu cũng đã được biết đến như là những vị thuốc. Tỏi đã từng dùng làm thuốc chữa chứng phát ban, viêm bạch cầu, viêm phổi và rối loạn đường ruột trước khi có những biệt dược đặc hiệu.

    Ngày nay người ta đã hiểu biết khá chi tiết về thành phần hoá học trong hành, tỏi. Hàng trăm hợp chất đã được phân lập và phân tích cấu trúc cũng như nghiên cứu về dược lý. Những hợp chất quan trọng nhất lấy từ hành, tỏi thường chứa từ một hoặc nhiều nguyên tử lưu huỳnh (S) trong cấu trúc. Đó là các hợp chất thiosunfua, polisunfua. Chúng có mùi và hoạt tính sinh học cao. Tuy vậy, cho đến gần đây những bí hiểm về cơ chế tác dụng sinh học của nhiều hoạt chất mới được tìm ra. Chẳng hạn như phát hiện ra chất etyletan disunfinat có tác dụng ngăn ngừa bệnh ung thư. Y học đã khẳng định hàm lượng nitrit cao trong dạ dày là một độc tố liên quan đến sự xuất hiện ung thư dạ dày. Thế mà xét nghiệm đã cho thấy người có thói quên ăn tỏi sống, sau khi ăn xong, hàm lượng nitrit trong dạ dày giảm hẳn. Người ta cũng đã chứng minh được tác dụng ức chế phát triển ung thư của các hợp chất polisunfua không no. Chẳng hạn như chất ajoen là một hợp chất chứa 3 nhân chiết tách từ tỏi có tác dụng diệt tế bào ung thư lympho. Chất diallyl diunfua còn có khả năng làm gia tăng sinh trưởng các enzym khử độc.

    Tỏi còn tác dụng hạ hàm lượng mỡ và cholesterol trong máu. Những người có bệnh tim nếu thường xuyên sử dụng tinh dầu tỏi sẽ làm giảm nguy cơ nhồi máu cơ tim hay nghẽn mạch bởi chất ajoen và dithin có trong tinh dầu tỏi. Tác dụng ức chế kết tụ tiểu cầu là do các chất adenosin, allixin, ajoen và các polysunfua khác có trong tỏi.

    Sau khi ăn tỏi, hơi thở có mùi khó chịu, đó là mùi của các hợp chất allylmetyl sunfua, disunfua, diallylsunfua; 2-poropen thiol.

Xoa tỏi dưới gan bàn chân thì sau vài giờ có thể phát hiện mùi tỏi trong hơn thở, lí do là chất allixin sau khi thấm qua da có thể tan trong mỡ và hấp thụ trong hệ lympha, không bị phân huỷ trong môi trường không chứa cistein và protein và thoát ra theo đường bài tiết. Còn ăn tỏi thì allixin sẽ phản ứng lập tức với các nhóm cistein chuyển thành những chất ức chế sinh hoá quan trọng.

    Như vậy, tỏi vừa là gia vị, vừa là một vị thuốc quý.

(Tổng hợp từ Internet-đã dược xác thực)

Melamine là gì? Và Melamine có phải là một độc tố?

2013-12-29 16:01
1. Melamine là gì?
    Về cơ bản Melamine là một bazơ hữu co, có công thức hoá học là C3H6N6, danh pháp theo IUPAC là 1,3,5-triazine-2,4,6-triamine.
    Melamine là một trime của cyanamide. Giống như cyanamide nó có đến 66% khối lượng Nitơ trong phân tử.
    Melamine cũng là một metabolite của cyromazine, một thành phần trong thuốc trừ sâu hại. melamine được chuyển hoá từ cyromazine trong cơ thể động, thực vật.
2. Melamine có phải là một độc tố gây hại?
    Hiện tại không có nhiều nghiên cứu cho thấy độc tính của melamine có thể gây hại cho con người. Nghiên cứu ở động vật cho thấy rằng melamine không chuyển hoá ở chuột và được thải ra nguyên xi. Các nghiên cứu ở động vật cho thấy rằng LD50 của melamine ở chuột > 3000 mg/kg.
    Tuy nhiên, gần đây với các chứng nghiệm lâm sàng cho thấy Melamine có thể dẫn đến tác hại như sỏi bàng quang, suy thận, sỏi thận, có thể gây ung thư bàng quang. Nhất là từ sau vụ việc nhiều trẻ em ở TQ sau khi dùng sữa có chứa Melamine dẫn đến bị suy thận hoặc sỏi thận, hoặc tử cong sau một thời gian sử dụng.
    Do đặc tính phân tử của Melamine có chứa nhiều Nitơ nên dễ được sử dụng làm tăng độ đạm "ảo" cho thực phẩm, nhất là trong thực phẩm chăn nuôi.
Tác hại của melamine đến sức khỏe người trưởng thành còn chưa được nhiều công trìng nghiên cứu, tuy nhiên hiện tại tác hại của melamine đến trẻ em làm điều không thể xem thường.
(Tài liệu: báo Hóa học và Ứng dụng)

Vitamin E

2013-12-29 15:59

CẤU TRÚC, CHỨC NĂNG

    Vitamin E là một Vitamin tan trong dầu, trong thiên nhiên gồm 8 dạng khác nhau của 2 hợp chất: tocopherol và tocotrienol. Trong thực vật, tocopherol được phân phối rộng rãi nhất, có cấu trúc vòng với một chuỗi dài bão hòa bên cạnh. Tocopherol gồm 4 dạng: alpha-, beta-, gamma-, và delta-, chúng được phân biệt bằng số và vị trí nhóm methyl trên vòng. Alpha tocopherol là thành phần có hoạt tính sinh học nhiều nhất của Vitamin E. Tocotrienol cũng có 4 dạng, alpha-, beta-, gamma-, và delta-, được phân biệt với tocopherol nhờ chuỗi bên cạnh bất bão hòa. Cũng còn được gọi dưới tên isoprenoid, các tocotrienol ít được phân bố rộng rãi trong thiên nhiên.

    Dạng thiên nhiên của Vitamin E, dưới tên gọi RRR-alpha-tocopherol (trước đây được gọi là d-alpha-tocopherol) được tìm thấy từ dầu thực vật và là một đồng phân lập thể đơn lẻ. Dạng có nguồn gốc tổng hợp của Vitamin E chính là tất cả các racemic-alpha-tocopherol, là một hỗn hợp gồm 8 đồng phân quang học. Cả hai dạng tự nhiên lẫn dạng tổng hợp của Vitamin E đều có cùng một công thức phân tử, nhưng khác nhau về cấu trúc trong không gian 3 chiều. Các cơ quan và các mô trong cơ thể, bao gồm phổi, gan, tế bào hồng cầu, huyết tương và não ưu tiên thu nhận Vitamin E nguồn gốc tự nhiên hơn so với Vitamin E nguồn gốc tổng hợp.

    Vitamin E được đo bằng đương lượng RRR-alpha-tocopherol (a, TE ). Một a, TE là hoạt tính của 1mg RRR-alpha-tocopherol. 1mg Vitamin E dạng tự nhiên tương đương với 1,49 IU và 1mg dạng tổng hợp tương đương với 1 IU.

Các nghiên cứu đã khẳng định ở người dạng tự nhiên của Vitamin E có hoạt tính sinh học lớn hơn dạng tổng hợp. Trong 2 nghiên cứu độc lập ở người, nghiên cứu thứ nhất trên những người lớn khỏe mạnh và 22 bệnh nhân phẫu thuật chọn lọc và nghiên cứu thứ hai trên phụ nữ mang thai, cho thấy dạng tự nhiên của Vitamin E được lưu giữ lại tốt hơn 2 đến 3 lần so với dạng tổng hợp.

    Chức năng chính của Vitamin E trong cơ thể là tác động như là chất chống oxy hóa- nó được xem là hàng phòng thủ trước tiên chống lại quá trình peroxyd hóa lipid. Vitamin E tác động ở mức độ tế bào để bảo vệ màng tế bào khỏi sự tấn công của gốc tự do làm tổn hại đến màng tế bào – nó thực sự hội nhập vào lớp Lipide kép xung quanh tế bào. Như là một chất thu dọn gốc tự do, Vitamin E bảo vệ các acid béo không bão hòa (PUFA) và cholesterol trong màng tế bào. Các tế bào hồng cầu (RBCs) đặt biệt có hàm lượng PUFA cao và Vitamin E có nhiệm vụ bảo vệ RBCs khỏi bị tán huyết. Như là một chất chống oxy hóa nội tế bào, Vitamin E tiết kiệm selenium, chất này chứa trong enzym glutathion peroxydase. Đây là thành phần khác của hệ thống ngòng thủ chống oxy hóa của cơ thể và bảo vệ những chất tương tợ chất béo khác như Vitamin A khỏi bị phân hủy.

    Thêm vào tác động oxy hóa quan trọng của nó, Vitamin E còn điều hòa sự ngưng tập tiểu cầu bằng tác động ức chế hoạt động của cyclooxygenase và làm giảm sự sinh tổng hợp prostaglandin (thromboxan). Vitamin E cũng có những tác động khác trong cơ thể bao gồm sự chuyển hóa nucleic và protein, chức năng phân bào và sản xuất hormon. Như thuật ngữ “Vitamin sinh sản” được các nhà nghiên cứu trước đây đặt ra, Vitamin E cũng cần thiết cho sự sinh sản bình thường.

SỰ HẤP THU-SỰ THIẾU HỤT

 

    Vitamin E, giống như những Vitamin tan trong dầu khác, được hấp thu cùng với các acid béo và triglicerides và tùy thuộc vào sự hiện diện của dầu mỡ trong chế độ ăn uống cũng như tác động của acid mật. Từ ruột non, Vitamin E được kết thành các chylomicron để vận chuyển qua hệ bạch huyết, tại đó nó được cho là để “tẩy sạch” trên các tế bào như tế bào hồng cầu. Cùng với vết còn lại của chylomicron, Vitamin E được qua gan và sau đó phân phối vào mô của cơ thể thông qua lipoprotein tỷ trọng rất thấp (VLDLs), lipprotein tỷ trọng thấp (LDLs) và lipprotein tỷ trọng cao (HDLs). Vitamin E được phân phối đồng đều hơn các Vitamin tan trong dầu khác trong mô cơ thể, với nồng độ cao tìm thấy trong huyết tương, gan, não và mô ưa mỡ (đặc biệt mỡ nâu).

    Sự thiếu hụt Vitamin E lâm sàng thì hiếm, và liên quan đến sự kém hấp thu và tính bất thường trong vận chuyển lipid. Những người có chứng kém hấp thu chất béo như bệnh tiêu chảy mỡ, chứng xơ hóa nang và hội chứng sau khi cắt bỏ dạ dày có thể có sự thiếu hụt Vitamin E mãn tính và trầm trọng.Những trẻ sơ sinh thiếu tháng hoặc trẻ có trọng lượng khi sinh ra rất thấp với dự trữ của cơ thể thấp và suy kém hấp thu tại ruột non cũng như tốc độ phát triển gia tăng cũng có nguy cơ thiếu hụt Vitamin E. Người với những rối loạn tế bào hồng cầu di truyền, ví dụ bệnh hồng cầu liềm và những bệnh nhân bị bệnh tán huyết, cũng có thể bị thiếu hụt Vitamin E. Ở người lớn, triệu chứng và những dấu hiệu thiếu hụt bao gồm sự hoái hóa cơ, vỡ tế bào hồng cầu( dẫn đến thiếu máu tán huyết)và vô sinh. Các triệu chứng đi kèm với hội chứng thần kinh tiến triển từ việc thiếu hụt Vitamin E, bao gồm bệnh học thần kinh tiến triển với sự vắng mặt hay biến đổi các phản xạ, sự mất điều hòa, yếu chi và sự mất cảm giác ở cánh tay và chân.

CÁC TÌNH TRẠNG MÀ VITAMIN E CÓ THỂ HỖ TRỢ

 

    Nghiên cứu về tác động bảo vệ của Vitamin E chống lại các bệnh mãn tính, đặc biệt là bệnh tim, tiểu đường và ung thư đã tập trung vào hoạt tính chống oxy hóa mạnh của Vitamin E để bảo vệ màng tế bào. Các nhà nghiên cứu cũng cho thấy công hiệu của Vitamin E trong việc gia tăng đáp ứng miễn dịch ở người lớn tuổi. Sử dụng Vitamin E cũng có thể làm chậm sự tiến triển của bệnh Alzheimer. Tương tự, Vitamin này cũng cho thấy nó là một chất bổ sung quan trọng đối với phụ nữ. Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng Vitamin E có thể điều chỉnh các triệu chứng bốc hỏa và các phiền toái do mãn kinh khác.

Bệnh tim

 

    Một cơ chế liên quan đến bệnh tim là sự phát triển và tiến triển của chứng vữa xơ động mạch. Sự hẹp vách động mạch đi kèm với sự tạo vữa mạch gây ra cho sự oxy hóa các lipprotein tỉ trọng thấp. Vitamin E là một chất chống oxy hóa mạnh, nó ức chế sự oxy hóa các LDL, và vì vậy có thể có vai trò đáng kể trong việc ngăn cản bệnh tim.

Các nhà nghiên cứu đã nghiên cứu vai trò của Vitamin E trong bệnh tim, giả thiết cho rằng liều cao Vitamin E có thể làm giảm nguy cơ bệnh này.

Trong 2 nghiên cứu dịch tể học quy mô lớn, một bao gồm gần 40000 người đàn ông làm việc trong ngành y tế và một bao gồm gần 90000 nữ y tá được chẩn đoán không mắc bệnh tim hoặc cao cholesterol trước đó, các nhà nghiên cứu tìm thấy rằng dùng Vitamin E từ các chế phẩm bổ sung thì giảm nguy cơ mắc bệnh mạch vành.

    Trong nghiên cứu trên những người đàn ông làm việc trong ngành y tế kéo dài 4 năm, những người này được cho dùng nhiều hơn 100-249IU Vitamin hàng ngày trong ít nhất 2 năm có một nguy cơ bị bệnh tim thấp hơn 37%. Tương tự trong nghiên cứu trên các nữ y tá trong 8 năm, bổ sung hằng ngày ít nhất 100IU Vitamin E , đã giảm khoảng 40% nguy cơ mắc bệnh tim ở những người này.

Mặc dù 2 nghiên cứu này là nghiên cứu dựa vào quan sát, nhưng một thử nghiệm lâm sàng sau đó đã khẳng định lợi điểm của Vitamin E trong việc chống lại bệnh tim.

    Trong một nghiên cứu mù đôi, đối chứng với giả dược, 2000 bệnh nhân được khẳng định có bệnh tim trước được cho dùng giả dược hoặc chế phẩm bổ sung với liều hoặc 800IU hoặc 400IU hàng ngày. Chỉ sau một năm trị liệu, bệnh nhân ở nhóm dùng chế phẩm bổ sung có tỉ lệ nhồi máu cơ tim không tử vong giảm 77%.

    Liệu pháp Vitamin E có lẽ có lợi trong chứng đi cách hồi do bệnh mạch máu ngoại biên. Những bệnh nhân trong các nghiên cứu lâm sàng nhận 300mg Vitamin E và tham dự vào một chương trình luyện tập, sau 4-6 tháng những người này thực hiện tốt hơn những bệnh nhân không nhận chế phẩm bổ sung trên thử nghiệm đi bộ.

Ung thư

 

Các gốc tự do có vai trò trong khởi phát và phát triển ung thư. Như là một chất thu dọn gốc tự do, Vitamin E trung hòa chúng và có thể có vai trò trong việc phòng ngừa ung thư.

    Vitamin E dường như làm giảm nguy cơ của nhiều loại ung thư, bao gồm ung thư tiền liệt tuyến, các ung thư ở miệng và ung thư ruột kết. Một nghiên cứu trên 29000 người đàn ông Phần Lan tuổi từ 50-69 dùng bổ sung hàng ngày 50mg Vitamin E trong 5 đến 8 năm tỉ lệ ung thư tiền liệt tuyến thấp hơn 32% và nguy cơ tử vong vì bệnh này thấp hơn 41%. Lý thuyết về tác động bảo vệ của Vitamin E theo các nhà nghiên cứu này bao gồm:

 

· Bảo vệ chống lại sự tổn hại do các gốc tự do bằng tác động chống oxy hóa.

· Tác động tăng cường hệ miễn dịch.

· Làm chậm lại hệ enzym liên quan đến việc làm tăng tốc độ phát triển của tế bào ung thư.

Đái tháo đường

 

Stress oxy hóa liên quan đến sự tạo thành gốc tự do và sự peroxy hóa của màng tế bào làm ảnh hưởng đến tính lưu động của màng. Tính lưu động của màng bị biến đổi có thể dẫn đến việc chuyển vận glucose kém, một yếu tố trong nguyên nhân gây đái tháo đường.

Vitamin E dường như cải thiện tác động của insulin ở người bị đái tháo đường. Như là tác động của một chất chống oxy hóa, nó có thể bảo vệ cấu trúc màng tế bào lỏng lẻo khỏi sự gia tăng peroxy hóa lipide và ngăn cản sự hư hỏng chức năng của các tác nhân vận chuyển glucose. Các công trình nghiên cứu về tác động của Vitamin E trên bệnh nhân đái tháo đường đã sử dụng khoảng liều từ 100 IU đến 900 IU. Trong một thử nghiệm lâm sàng, nhóm người đái tháo đường đã điều trị nhận 100 IU Vitamin E, và những bệnh nhân này cho thấy giảm 10% lượng hemoglobin nhiễm glucose và giảm 24% nồng độ glucose.

Khả năng miễn dịch

 

Người ta thấy rằng Vitamin E làm gia tăng hoạt động của hệ miễn dịch có thể do 2 cơ chế: (1)giảm sự tổng hợp prostaglandin và (2) giảm sự tạo thành gốc tự do. Sự gia tăng hoạt động của hệ miễn dịch có thể ngăn cản các tình trạng thoái hóa đi kèm với tuổi già. Trong một nghiên cứu cho thấy dùng liều cao hàng ngày Vitamin E làm tăng đáp ứng của hệ miễn dịch ở 88 người lớn khỏe mạnh trên 65 tuổi. Nhóm người lớn tuổi được lựa chọn ngẫu nhiên này được cho dùng hoặc các liều bổ sung Vitamin E 60, 200 hoặc 800mg hoặc giả dược. Những người trong nhóm nhận 200mg cho thấy chức năng của tế bào T được gia tăng là tối ưu.

Bệnh Alzheimer

 

Các nhà khoa học đang nghiên cứu vai trò của Vitamin E trong việc làm chậm tiến triển của bệnh Alzheimer; về mặt lý thuyết bệnh này có lẽ được gây bởi sự tổn thương oxy hóa các tế bào thần kinh. Trong một nghiên cứu, người ta thử nghiệm tác động của Vitamin E, selegiline, giả dược, hoặc sự kết hợp Vitamin E và dược phẩm trên những bệnh nhân Alzheimer và tìm thấy rằng Vitamin E làm giảm số người cần nhập viện, mặc dù tử vong không giảm ở nhóm điều trị bằng Vitamin .

Triệu chứng mãn kinh

 

Cơn bốc hỏa là triệu chứng khó chịu và phổ biến ở phụ nữ mãn kinh. Các nghiên cứu trong những năm 1940 nhận thấy rằng Vitamin E có hiệu quả trong việc giảm các triệu chứng vận mạch đi kèm lúc mãn kinh, nhưng không có những nghiên cứu lâm sàng nào gần đây khẳng định điều này. Tuy vậy, nhiều phụ nữ thấy rằng các triệu chứng đỏ bừng và bốc hỏa có giảm khi dùng bổ sung Vitamin E với liều 400-800IU mỗi ngày. Vitamin E cũng có thể làm giảm các triệu chứng liên quan đến hội chứng tiền kinh, đặc biệt trong bệnh xơ nang tuyến vú (FBD). Hiện tượng u vú lành tính này là một tình trạng manh tính chu kỳ, chúng thường xảy ra trước khi hành kinh và có thể được làm giảm với các liều Vitamin E 600IU/ ngày.

 

MỨC LIỀU-ĐỘC TÍNH

 

    Độc tính của Vitamin E thì hiếm: 50%-70% liều hàng ngày được thải ra phân. Liều hàng ngày ở người lớn 600-800 IU alpha-tocopherol cho thấy không có những hậu quả về sức khỏe ngắn hạn hoặc dài hạn.

    Mức liều Vitamin E cần để bảo vệ PUFAs (các acid béo không bão hòa) chống lại tổn thương do oxy hóa ít nhất là từ 0,4-0,8mg Vitamin E / mỗi g PUFA. Những lượng lớn hơn Vitamin E cũng có thể được yêu cầu (1,5mg/g) trong các chế độ ăn uống có nồng độ PUFAs trung bình cao hơn. Các nhà nghiên cứu sự dinh dưỡng ở người định mức nhu cầu Vitamin E căn cứ vào việc ngăn ngừa bệnh mãn tính, đề nghị lượng Vitamin E đưa vào cơ thể hàng ngày là 135-150 IU. Hoạt động chống oxy hóa của Vitamin E thể hiện ở 40 IU/ngày, với một tác động phụ thuộc liều được ghi nhận ở liều lên đến 800IU/ngày. Vitamin E 200-400 IU/ngày làm giảm sự kết dính tiểu cầu ở thành mạch.

 

    Các đối tượng có nguy cơ thiếu hụt Vitamin E

  • Người mắc bệnh kém hấp thu chất béo
  • Bệnh tiêu chảy mỡ
  • Xơ hóa tạo nang
  • Rối loạn tụy tạng
  • Trẻ sinh thiếu tháng và trẻ sơ sinh trọng lượng lúc sinh thấp
  • Bệnh nhân thẩm phân phúc mạc
  • Bệnh nhân bệnh về máu di truyền (ví dụ bệnh thiếu máu hồng cầu liềm)

(Tài liệu: báo Hóa học và Ứng dụng)

Cách làm kem chống nắng đơn giản tại nhà

2013-12-29 15:58

Nếu bạn lo ngại các loại mỹ phẩm, kem chống nắng…trên thị trường có chứa các hóa chất gây hại cho sức khỏe. Thì bạn hoàn toàn có thể tự làm mỹ phẩm cho mình tại nhà. Sau đây là các bước làm kem chống nắng với 3 thành phần đơn giản sau vừa dễ dàng, lại tự nhiên và không gây tốn kém. Hơn nữa, chúng lại khiến cơ thể bạn có mùi hương thơm quyến rũ.

Nguyên liệu:

 - 1 chén dầu ôliu hoặc dầu ăn tự nhiên

 - 28 g sáp ong tinh khiết

 - oxit kẽm hay dioxide titanium

                     

(3 nguyên liệu cần để tự làm kem chống nắng)

 

Dụng cụ:

 - 1 cái xoong

 - Thìa để khuấy

 - Bếp gas

 - Lọ thủy tinh hoặc lọ gốm có nắp đậy để lưu trữ

Các bước làm:

B1:  Đổ một chén dầu ô liu nóng vào chảo và đun trên bếp với một ngọn lửa nhỏ liu riu.

               

 

B2:   Thêm 1 miếng sáp ong vào để chúng tan chảy ra cùng với nước dầu ô liu.

 

                

 

B3:   Hãy khuấy liên tục cho đến khi sáp ong hoàn toàn tan trong dầu nóng

B4:   Sau đó, thêm 1-2 muỗng canh bột oxit kẽm. Tiếp tục đảo hỗn hợp đều trong chảo liên tục để đảm bảo chúng được pha trộn hoàn toàn.

              

 

B5:  Tắt bếp và để hỗn hợp trong chảo nguội trở lại. Sau đó đổ hỗn hợp kem chống nắng tự chế được vào một lọ thủy tinh hoặc gốm để lưu trữ

                 

Nếu bạn muốn đổ hỗn hợp kem chống nắng vào một chiếc lọ có cổ hẹp thì phải đảm bảo chiếc lọ này có thể bóp được kem chống nắng mỗi khi muốn sử dụng.

                

B6:  Bảo quản kem chống nắng ở nhiệt độ phòng hoặc lưu trữ trong môi trường khô, mát.

Lưu ý:

 -  Nếu bạn không thể tìm thấy kem oxit kẽm từ hiệu thuốc thì hãy thử thay thế bằng những loại dầu tự nhiên. Chỉ đảm bảo rằng, các thành phần này hoàn toàn an toàn để ăn được thì chúng cũng an toàn trên da của bạn.

 -   Nếu muốn, bạn có thể thêm một vài giọt tinh dầu tạo mùi hương dễ chịu cho kem chống nắng. Để làm điều này, chỉ cần kiểm tra các đặc tính của tinh dầu nhằm đảm bảo nó phù hợp khi ra nắng mà không có tác dụng phụ.

 -  Sáp ong làm cho các sản phẩm kem chống nắng bị nhớt nhưng lại có tác dụng dưỡng da. Vì thế, bạn có thể thử thay đổi tỷ lệ dầu sáp thích hợp.

 -  Để tránh rủi ro làm hỏng kem chống nắng, bạn có thể đặt kem chống nắng trong ngăn mát tủ lạnh.. Để xa tầm với của trẻ em và những vật nuôi tò mò.

Tài liệu: Báo Hóa học và ứng dụng

Đưa melaminng vào thực phẩm nhằm mục đích gì? Nêu một số tác hại mà melamin gây nên?

2013-12-29 15:57

Melaminng có công thức C3N3(NH2)3

- Trong công thức melamin có 66% là nitơ. Đưa melamin vào thực phẩm thì khi kiểm nghiệm sẽ cho chỉ số nitơ toàn phần cao làm cho người ta hiểu lầm là lượng đạm cao nhưng đây chỉ là lượng đạm cao “giả” (vì nitơ trong melamin không có tính dinh dưỡng như nitơ trong protein thật). Có hai cách đưa melamin vào thực phẩm:

+ Trộn melamin vào các bột gạo protein (có tiêu chuẩn hàm lượng protein cao, gọi là gluten) để làm thức ăn cho chó mèo, gia súc (phát hiện tháng 4-2007 tại Mỹ).

+ Cho melamin vào nước, tạo ra một hỗn dịch giống sữa, rồi trộn với sữa tươi sẽ làm tăng lượng sữa tươi lên, rồi đem bán cho nhà máy sản xuất sữa bột. Melamin có trong sữa bột sẽ làm tăng cân nặng của sữa bột (phát hiện năm 2008, tại Trung Quốc).

- Tác hại của melain : Trẻ em chức năng thận còn chưa hoàn chỉnh, melamin sẽ làm cho trẻ em bị sỏi thận  có thể tử vong (nếu trẻ quá nhỏ và melamin tích tụ nhiều). Người lớn ít bị độc hơn trẻ nhưng cũng có thể phá hủy bộ máy sinh sản, gây suy thận, sỏi thận.

(Tổng hợp từ Internet-đã dược xác thực)

Sự thật đáng sợ về hóa chất độc hại quanh ta

2013-12-29 15:56

     Có thể bạn chưa biết nhưng những vật dụng thường dùng hàng ngày cũng có thể ẩn chứa những hóa chất độc hại gây nguy hiểm cho sức khỏe của bạn và gia đình.

     Công nghiệp hiện đại ngày càng phát triển, thói quen ăn uống và thói quen sinh hoạt có sự thay đổi lớn. Thống kê y học cho thấy mỗi ngày chúng ta tiếp xúc với một một nghìn loại hóa chất độc hại khác nhau. Phụ nữ mỗi ngày bôi lên mặt trung bình 175 loại hóa chất, bình quân mỗi ngày hấp thu tới 200mg, chất kích thích từ thịt là 150mg.

        

(Độc tố trong cơ thể chúng ta như quả bom hẹn giờ, tích tụ đến một mức nhất định nó sẽ sinh bệnh )

    Thông thường chúng ta thường biết đến một người chết vì bệnh ung thư, tim mạch… hay do tai biến chứ không chú ý đến những sát thủ ẩn nấp đằng sau những căn bệnh đó lại chính là do các thói quen sinh hoạt và ăn uống hàng ngày của chúng ta gây nên. Những hóa chất độc hại luôn hiện hữu trong những vật dụng hết sức thân thuộc hàng ngày và tấn công sức khỏe của chúng ta bất cứ lúc nào.

     Thực phẩm ô nhiễm, không khí ô nhiễm, nguồn nước ô nhiễm. Trong cuộc sống hiện đại, độc tố khắp nơi nên không ai có thể tránh khỏi. Trên thực tế, những độc tố này được tích lũy qua năm tháng, ngày một nhiều lên tạo thành những lớp độc tố cực kỳ nguy hiểm trong cơ thể, giống như mảng bám trong ấm trà, chúng bám chắc trong các bộ phận cơ thể, trong các tế bào lục phủ ngũ tạng. Nhưng độc tố ngấm vào cơ quan nội tạng, phá hủy các tế bào, ngăn cản tế bào hấp thu các chất dinh dưỡng và chặn đường thoát của các tế bào chết gây ra các hiện tượng đau đầu, chóng mặt, mệt mỏi, mất ngủ, kém ăn, sức đề kháng kém sau đó phát bệnh và gây ung thư.

1. Fluoride trong kem đánh răng

    Kem đánh răng trên thị trường ít nhiều đều có chứa florua, tác dụng của nó là ngăn chặn sâu răng. Nhưng florua bản thân nó cũng là tiềm năng "độc", ngay cả khi chỉ có một số lượng rất nhỏ cũng ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, thậm chí gây ngộ độc và có thể dần dần tích lũy

     Viện nghiên cứu ung thư quốc gia Mỹ đã phát hiện thấy các phản ứng flo có liên quan đến những ca tử vong ung thư xảy ra mỗi năm trên đất nước này.

Về vấn đề này, đại học Y Capital, phòng Tiến sỹ của bệnh viện Nha khoa Bắc Kinh nhắc nhở mọi người, hãy chắc chắn Bắc Kinh Nha khoa Bệnh viện phòng Tiến sĩ Peng nhắc nhở, hãy chắc chắn để điều chỉnh việc sử dụng kem đánh răng fluoride, không quá 3,4 mg mỗi ngày cho người lớn, không quá 1,9 mg đến 2,1 mg đối với trẻ từ 7-15 tuổi.

Trẻ dưới 3 năm dễ nuốt kem đánh răng khi đánh răng thì được khuyến cáo là tạm thời không sử dụng kem đánh răng fluoride.

2. Chất p-phenylenediamine trong thuốc nhuộm tóc

      Nhuộm tóc hiện nay đang trở thành một trào lưu trong đại bộ phận giới trẻ. Nhưng đa số đều không biết hoặc cố tình làm ngơ trước những tác hại của thuốc nhuộm tóc. Thuốc nhuộm sau khi được bôi lên tóc, sẽ từ từ thấm vào da đầu sau đó xâm nhập vào cơ thể

Đặc biệt, trong thuốc nhuộm tóc có sử dụng một hóa chất có tên là p-phenylenediamine. Chất này giúp màu sắc, màu tóc tươi sáng nhưng nó cũng có thể gây dị ứng da và thậm chí cả ung thư.

      Giám đốc bệnh viện Cảnh sát vũ trang Bắc Kinh, Vụ Huyết học nhắc nhở, nếu tóc được làm nóng đồng thời với lúc nhuộm tóc thì các mối nguy hiểm sức khỏe càng lớn hơn bởi vì p-phenylenediamine sẽ xâm nhập vào các mao mạch qua da dầu dễ hơn, với việc lưu thông máu, nó có thể gây ra các bệnh về máu, bệnh bạch cầu...

      Ngoài ra, p-phenylenediamine cũng dễ gây ung thư da, ung thư bàng quang. Tốt nhất, khi nhuộm tóc nên hạn chế tiếp xúc thuốc với phần da đầu. Nếu màu tóc bị bạc theo đám thì không nên nhuộm đen toàn bộ đầu mà chỉ nhuộm phần tóc trắng để giảm mức độ kích thích da đầu và tổn thương.

    Nhuộm tóc hiện nay đang trở thành một trào lưu trong đại bộ phận giới trẻ. Nhưng đa số đều không biết hoặc cố tình làm ngơ trước những tác hại của thuốc nhuộm tóc.

3. Cồn trong nước súc miệng

      Nước súc miệng giúp làm sạch răng và miệng, mang lại hơi thở thơm tho. Nhưng một trong những thành phần thiết yếu của nước súc miệng - rượu, có thể làm cho cơ thể bị thiệt hại gây ung thư.

      Nghiên cứu của Viện Ung thư quốc gia Úc công bố năm 2009 cho thấy, nồng độ cồn của nước súc miệng là 25% hoặc cao hơn, tỷ lệ đó có liên quan với các bệnh ung thư miệng, lưỡi và cổ họng

4. Hóa chất độ hại và hương liệu trong sản phẩm chăm sóc em bé

      Khi chọn mua sản phẩm dầu tắm gội cho trẻ, các bậc phụ huynh nên lưu ý nhìn nhãn chai mỹ phẩm và thành phần (ingredients) in trên đó để tránh những hóa chất độc hại như Phenoxyethanol, Mineral oil…Nhiều tổ chức như FDA, Mind Body Green, David Suzuki Foundation, Green Organic World… đã công bố những thành phần trong mỹ phẩm có thể   gây tác động xấu đến con người.

       Hiện tại, hầu hết các sản phẩm mỹ phẩm trên thị trường đều có chứa một số thành phần này. Nguyên liệu chính tạo nên dầu tắm gội là nước để tạo dung dịch lỏng, chất dịch treo để làm chúng trông có vẻ nhớt đồng nhất, chất bảo quản chống lại vi sinh vật, chất tẩy rửa, chất tạo bọt, hương liệu.

       Trong các sản phẩm tự nhiên, các thành phần này đa phần được chiết xuất từ thực vật. Tuy nhiên với các sản phẩm dầu tắm, dầu gội phổ biến thì hầu hết đều là các chất hóa học.
       Ngoài ra thị trường còn có dầu làm mềm da - Mineral oil với tên tiếng Việt là khoáng dần, nghe rất tự nhiên và có lợi cho sức khỏe của bé nhưng thực tế chúng lại ngăn cản sự bài tiết của da, làm bít lỗ chân lông, gây mụn. Nguy hiểm hơn, chất này được khuyến cáo có khả năng gây ung thư và ảnh hưởng đến khả năng sinh sản.

Khi chọn mua sản phẩm dầu tắm gội cho trẻ, các bậc phụ huynh nên lưu ý nhìn nhãn chai mỹ phẩm và thành phần (ingredients) in trên đó để tránh những hóa chất độc hại như Phenoxyethanol, Mineral oil…

        Trong đó, Mineral oil sản xuất từ dầu mỏ được đun lên và cất qua từng công đoạn với các sản phẩm dược như petrolatum, paraffinum liquidum, paraffin oil, cera microcristallina.

        Sodium Laureth Sulfate (SLES), Sodium Lauryl Sulfate (SLS), Amonium Lauryl Sulfate (ALS) là loại chất tẩy rửa và hoạt chất bề mặt, tạo bọt được sử dụng rộng rãi trong ngành công nghiệp mỹ phẩm vì giá thành rẻ. Chúng gây khô và bào mòn da, mỏng tóc, gây kích ứng với da nhạy cảm. Ngoài ra, nó có thể gây đục thủy tinh thể và các vấn đề khác về mắt.

        Triclosan là hoạt chất kháng khuẩn có công thức tương tự với chất độc màu da cam. EPA xếp hóa chất này vào loại thuốc diệt côn trùng, gây nguy cơ cao đối với sức khỏe con người và môi trường. Là một chất trong nhóm chlorophenol, triclosan bị nghi ngờ là hóa chất gây ung thư ở người. Đại học Y dược Tufts của Mỹ còn cho rằng triclosan chính là nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện của những loại "siêu côn trùng" kháng thuốc nguy hiểm.

     Hương thơm trong các sản phẩm mỹ phẩm là những hóa chất tạo mùi nhằm che lập đi những mùi vị không lành mạnh khác. Hương liệu tổng hợp có thể gây kích ứng da, nổi mẩn đỏ, da trở nên khô, sần sùi và lão hóa nhanh hơn. Ngoài ra, nếu dùng sản phẩm chứa hương liệu liên tục trong thời gian dài có thể gây ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương hay chứng rối loạn nội tiết

5. Hóa chất gây ung thư trong sơn móng tay

      Sơn móng tay có chứa nhiều hóa chất độc, điều này đã được các nhà khoa học Mỹ chứng minh trong một nghiên cứu gần đây. Những hóa chất độc thường thấy trong các loại sơn móng tay đó là: benzen, toluen, aceton... Benzen dễ gây ung thư, toluen có thể gây nghiện nếu hít nhiều, aceton nếu tiếp xúc trực tiếp với da sẽ dễ gây dị ứng và nhiễm trùng.

      Để hạn chế những tác hại của sơn móng tay đối với cơ thể con người, ta nên đọc kĩ những thành phần hóa học trong những sản phẩm trước khi mua. Và không nên dùng sơn móng tay liên tục trong thời gian dài, kể cả móng tay giả. Khi thấy những vùng da xung quanh móng tay bị mẩn đỏ, phải đến các cơ sở y tế để xử lí sát khuẩn, tránh nhiễm trùng.

      Sơn móng tay có chứa nhiều hóa chất độc, điều này đã được các nhà khoa học Mỹ chứng minh trong một nghiên cứu gần đây

6. Chất talc trong mỹ phẩm trang điểm

      Hầu hết các mỹ phẩm dạng bột như màu mắt, má hồng, phấn nền... của chị em đều có chứa talc. Đây là một chất bôi trơn rất tốt, có thuộc tính hóa học tương tự với amiăng, vốn được biết đến như một chất gây ung thư (cụ thể là ung thư buồng trứng và đường hô hấp).

     Một báo cáo được công bố trên "Tạp chí Dịch tễ học" đã cho thấy rằng, những phụ nữ sử dụng bột talc thì nguy cơ ung thư buồng trứng sẽ gia tăng 60% so với những chị em khác. Ngoài ung thư, hóa chất này cũng có thể dẫn đến áp lực đường thở cấp tính khi hít phải.

7. Toluene trong nước hoa

        Nếu bạn bị hen suyễn, bạn hãy tránh xa sơn móng tay, gel tóc, sáp tóc, các mỹ phẩm có mùi thơm khác, đặc biệt là nước hoa bởi vì tất cả chúng đều chứa toluene. Các nghiên cứu xuất hiện các triệu chứng khó chịu trong kết mạc và cổ họng tắc nghẽn, chóng mặt, nhức đầu, buồn nôn, nôn, chóng mặt, suy nhược...

       Nếu tiếp xúc lâu dài, nó có thể dẫn đến ngộ độc mãn tính xảy ra hội chứng thần kinh suy nhược, gan to, hoặc gây các bất thường kinh nguyệt cho phụ nữ, da khô, viêm da. Nếu bạn là một người đam mê nước hoa, rất khó từ bỏ việc sử dụng chúng thì bạn có thể xem xét việc sử dụng các loại tinh dầu để thay thế.

8. Dioxane (dioxan) có trong chất tẩy rửa

         Năm 2011, Tổng chức Môi trường Thế giới phát hiện, trong chất tẩy rửa có chứa chất gây ung thư là dioxane. Theo cơ quan này, trong khi chất tẩy rửa loại bỏ chất bẩn thì chúng cũng lưu lại các chất có độc dẫn tới ung thư là dioxane.

        Lựa chọn các chất tẩy rửa thân thiện với môi trường, học cách đọc nhãn ghi thành phần của chất tẩy rửa. Nếu sản phẩm có các thành phần như polyethylene, polyethylene glycol, polyetylen oxit thì đều có khả năng chứa dioxane và bạn nên tránh chúng.

9. Bispheol-A (BPA) trong đồ nhựa

           CPCHE - Tổ chức Sức khỏe và Môi trường Trẻ em Canada khuyến cáo rằng chúng ta không nên quá tin tưởng vào mác "an toàn khi sử dụng trong lò vi sóng" (microwave safe) đối với các sản phẩm về nhựa. Tốt hơn hết là không nên sử dụng hộp nhựa hoặc bọc thức ăn bằng nhựa trong lò vi sóng vì các hóa chất độc hại có thể ngấm từ nhựa vào thực phẩm và đồ uống.

         Thực phẩm nên được bảo quản trong các hộp thủy tinh hoặc gốm thay vì hộp nhựa. Và người tiêu dùng thì nên ăn các thực phẩm tươi và đông lạnh nếu có thể để tránh nguy cơ tiếp xúc với Bispheol-A (BPA), một hóa chất được sử dụng trong lớp lót các loại hộp dùng để chứa thực phẩm và đồ uống. BPA có thể gây ra rất nhiều tác động đối với sức khỏe, từ ảnh hưởng đến sự phát triển của não đến làm gián đoạn các chức năng nội tiết.

BPA trong đồ nhựa có thể gây ra rất nhiều tác động đối với sức khỏe, từ ảnh hưởng đến sự phát triển của não đến làm gián đoạn các chức năng nội tiết.

        Bên cạnh đó, CPCHE cũng khuyến khích các bậc cha mẹ tránh mua những đồ chơi cho bé ngậm lúc mọc răng, đồ chơi trong bồn tắm, yếm, rèm tắm và các sản phẩm khác có chứa PVC, một loại nhựa mềm thường được gọi là nhựa vinyl. Những sản phẩm này có thể chứa các hóa chất độc hại có tên phthalates vốn bị cấm sử dụng trong sản xuất đồ chơi trẻ em kể từ tháng 6/2011.

10. Styrene có trong hộp xốp

        Theo báo cáo nghiên cứu của Chương trình độc chất học quốc gia của Mỹ, styrene là một chất gây ung thư, có thể phá hủy DNA trong cơ thể người. Styrene được dùng nhiều để sản xuất các loại hộp xốp, nhất là các loại hộp đựng thức ăn, bát, đũa, cốc dùng 1 lần.

        Hãy tránh xa hoặc hạn chế sử dụng các các sản phẩm này bằng cách tránh làm nóng thức ăn trong những vật liệu nhựa chứa chất polystyrene, đặc biệt là thực phẩm chiên nóng. Nếu đựng các loại thực phẩm này, ở nhiệt độ cao chất styrene trong hộp, cốc... có thể được giải phóng và gây độc

(Tài liệu: báo Hóa học và Ứng dung)

<< 5 | 6 | 7 | 8 | 9 >>


Có thể bạn quan tâm