Lịch sử Hóa học

Lịch sử các học thuyết dung dịch

2013-12-30 09:13

THỜI KỲ GIẢ KIM THUẬT

        Các nhà giả kim thuật kiếm tìm thứ dung môi vạn năng mà theo họ có thể hoà tan tất cả mọi chất.

Thế kỉ XVI-XVII

        sự hoà tan là quá trình cơ học. Các hạt dung môi thâm nhập vào các lỗ nhỏ của chất tan và tách các hạt ra khỏi chất tan. Sau đó, đến lượt mình, những hạt này rơi vào các lỗ nhỏ của dung môi. Dung dịch được tạo thành bằng cách đó. Thuyết hạt, theo quan điểm hiện đại thì có vẻ rất ngây thơ, nhưng nếu đem so sánh với quan niệm của các nhà giả kim thuật thì lại là tiên tiến. Thuyết này đã tìm kiếm các nguyên nhân thật của quá trình hoà tan trong cấu tạo của chất taPie Gacxenđi (1592 - 1655), Rôbecđơ Bôilơ (1617 - 1691), Nhicôlai Lameri (1645 - 1715) v.v... phát triển lí thuyết hạt về dung dịch. Theo thuyết này, n và dung môi với những tính chất huyền diệu của thứ gọi là dung môi vạn năng.

    Giêocgơ stan (1657 - 1734) là người đầu tiên chú ý đến tính đặc thù của dung môi và tìm cách giải thích. Theo ý kiến của ông, chất lỏng làm dung môi bao gồm những hạt, về cấu tạo có sự phù hợp nhất định với các lỗ nhỏ của chất hoà tan. Bởi vậy, một chất lỏng chỉ có thể hoà tan một số chất nhất định.

Năm 1704

      Ixac Niutơn (1642 - 1727) tạo điểm khởi đầu cho học thuyết cơ học về dung dịch. Trong cuốn sách "Bàn về bản chất của axit" ông đã trình bày nội dung cơ bản học thuyết của mình như sáu : quá trình hoà tan thực hiện được là nhờ tác dụng của lực hút giữa các hạt dung môi và chất tan ; lực này tương tự như lực vạn vật hấp dẫn. Theo Niutơn, các tiểu phân nhỏ bé nhất của các chất chịu tác dụng của lực hút ; lực hút này tỉ lệ thuận với khối lượng và tỉ tệ nghịch với bình phương khoảng cách.

Năm 1745

     Mikhain Vaxilievich Lômônôxôp (1711 - 1765) công bố công trình "Bàn luận về tác dụng của dung môi trong hoá học". Học thuyết về dung dịch là một trong những đối tượng nghiên cứu cơ bản của Lômônôxôp trong lĩnh vực hoá lí.

Năm 1748

     Ápbat Giăng Ăngtoan Nôle (1700 - 1770), giáo sư vật lí Pháp lần đầu tiên quan sát thấy hiện tượng thẩm thấu, ông đã nghiên cứu quá trình sôi của chất lỏng. Để ngăn ngừa hiện tượng thâm nhập của không khí vào một bình có chứa rượu, ông đã buộc kín miệng bình bằng một màng tế bào động vật, rồi đem nhúng bình này vào một bình khác có chứa đầy nước. Sau vài giờ đồng hồ, ông nhận thấy màng ngăn trên miệng bình bị căng phồng lên. ông giải thích hiện tượng này như sau : màng động vật có tính chất thẩm thấu đối với rượu dễ hơn là đối với nước.

Năm 1752 -1756

     Lôrnônôxôp phát triển học thuyết hoá lí của mình về dung dịch.Ông là người đầu tiên chú ý đến ảnh hưởng của nhiệt độ đến độ tan của các chất, ông tiến hành nhiều thí nghiệm hoà tan các chất ở nhiệt độ khác nhau.

Năm 1780 - 1790

     Tôvi Egôrôvic Lôvixơ (1757 - 1804) nghiên cứu sự kết tinh của muối và các chất khác từ dung dịch.

Năm 1800

     Nhà bác học Anh Uyliam Nicônxông (1753 - 1815), Antoni Caciai (1768 - 1840) và Uyliam Crucsan (1745 - 1810) công bố các kết quả thí nghiệm về phân huỷ nước bằng dòng điện, tạo thành hiđro và oxi. Đây là phản ứng hoá học đầu tiên trong dung dịch được thực hiện do tác dụng của dòng điện.

Năm 1800

     I.Ritecsơ (1776 - 1810) tiến hành điện phân dung dịch một số muối. Trong quá trình đó ông thấy kim loại tách ra ở cực âm và oxi giải phóng ở cực dương.

Năm 1802

     Vaxili Vlađimirovic Petrôp (1761 - 1834) đã chế tạo thành công một thiết bị dòng điện một chiều có cường độ lớn. Đó là một khối pin điện bao gồm 4200 vòng đồng và kẽm. Nhờ thiết bị này, ông đã tiến hành điện phân nhiều dung dịch muối cùng một lúc trong các bình khác nhau.

Năm 1803

     William Henri (1775 - 1836) phát biểu định luật về độ hoà tan của chất khí ở những áp suất khác nhau. Trong bức thư gửi cho Giôn Đantôn, Henri thông báo về phát minh quan trọng của mình như sau : lượng khí bị hấp thụ bởi nước tăng tỉ lệ thuận với áp suất của khí trên bề mặt dung dịch. Rôbectơ Bôilơ trước đây cũng đã nghiên cứu về độ tan của chất khí trong chất lòng, ông nhấn mạnh sự khác nhau giữa hỗn hợp không khí - nước và hỗn hợp muối - nước. Giôzep Prixli (1733 - 1804) cũng đã chú ý đến độ hoà tan của chất khí trong chất lỏng. Nhưng người đầu tiên nghiên cứu hiện tượng này một cách định lượng là Henri.

Năm 1803 - 1807

    lonxơ lacôp Beczêliuyt (1779 - 1848) và Vinhemmơ Hizingec (1766 - 1852) khi nghiên cứu sự điện phân các muối khác nhau, axit sunfuric và các chất khác, đã xác định rằng : kim loại và hiđro luôn thoát ra ở điện cực âm. Họ đã chứng minh rằng kim loại là sản phẩm của quá trình điện phân, không phải như trước đấy người ta tưởng nó được tạo thành do tương tác của muối với hiđro được giải phóng trên điện cực.

Năm 1803

      Cuốn sách nhan đề "Thí nghiệm về thống kê hoá học" của Clôt Lui Bectôlê (1748 - 1822) được xuất bản. Trong đó ông đưa ra quan niệm là giữa các hợp chất hoá học và dung dịch không có ranh giới rõ rệt. Theo ý kiến của ông, hoà tan là một quá trình hoá học xảy ra do ái lực hoá học giữa dung môi và chất tan. Bectôlê đã cố gắng chứng minh rằng sự khác nhau giữa hợp chất hoá học và dung dịch chỉ là ở mức độ khác nhau về ái lực hoá học. Có nhiều nhà hoá học đã ủng hộ học thuyết của Bectôlê, trong số đó có Hecman Hecxơ (1802 - 1850), Tômat Grêm (1805 - 1869). Còn Beczêliuyt thì không đồng tình với thuyết này ; ông đề xuất lí thuyết điện hoá của riêng mình về dung dịch.

Năm 1805

     Teođo Grôguxơ (1785 - 1822) tiến hành giải thích cơ chế về tính dẫn điện của dung dịch, ông đã trình bày quan điểm của mình trong bài viết : "Nhận xét về sự phân huỷ nước và sự hoà tan các chất dưới tác dụng của dòng điện trong nước”.

Năm 1806

    Hemfri Đêvi (1778 - 1829) xác định tỉ lệ thể tích của oxi và hiđro thu được khi điện phân nước, và giải thích về sự hình thành của các chất khí đó. Theo ông: oxi và hiđro được giải phóng từ những phần khác nhau của nước. Điều khẳng định này gẩn đúng với thực tế và dần dần thay thế cho quan niệm của Ritec cho rằng nước là đơn chất.

Năm 1807

    Giôn Đantôn (1766 - 1844) đã áp dụng định luật Henri để biểu thị sự phụ thuộc nồng độ của các khí trong dung dịch vào áp suất của hỗn hợp khí. ông đưa ra khái niệm "áp suất riêng phần".

Năm 1819

     Giôzep Lui Gay Luyxăc (1778 - 1850) tiến hành nghiên cứu bằng thực nghiệm về độ hoà tan của chất rắn trong chất lỏng, ông chỉ ra rằng : các dung dịch của một chất điều chế ở cùng một nhiệt độ có cùng thành phần, thì thành phần đó vẫn giữ nguyên không thay đổi theo thời gian, với điều kiện nhiệt độ ổn định.

Năm 1833 - 1834

      Maicơn Farađây (1791 - 1867) phát minh hai định luật cơ bản về điện phân : 1.Lượng chất giải phóng trong quá trình điện phân trên điện cực tỉ lệ thuận với lượng điện đi qua dung dịch. 2.Cùng một lượng điện sẽ giải phóng những lượng chất khác nhau, tuỳ thuộc vào đương lượng của chất.

    Farađây đưa ra các dành từ: điện cực, chất điện li, sự điện phân, anôt, catôt, ion, anión, catión. Theo tiếng Hi Lạp thì "ion" có nghĩa là "chu du", còn các tiếp đầu ngữ "ana" và “cata" có nghĩà là "bên trên" và "bên dưới".

Năm 1836

    Nhà vật lí và hoá học Anh Giôn R.Frederic Đanien (1790 - 1845) phát minh ra pin, được áp dụng rất rộng rãi trong điện hoá học.

Năm 1838 -1840

      Nhà vật lí Nga Bôrixơ Xêmênôvich lacôbi (1801 - 1874) đã nghiên cứu mở đầu cho kĩ thuật đúc điện. Bằng quá trình điện phân, ông tiến hành kết tủa kim loại trên bề mặt của các vật khác nhau, với mục đích tạo ra những bản sao kim loại chính xác. Đó là ứng dụng đầu tiên của điện hoá học trong thực tế.

Năm 1838

       Giôn Frederic Đanien nhận thấy rằng khi cho dòng điện đi qua dung dịch, thì các ion khác nhau chuyển động với tốc độ khác nhau.

 

Năm 1853

       Nhà hoá học Đức Vinhemmơ Hitôptơ (1824 - 1914) nghiên cứu cơ chế truyền dòng điện qua dung dịch bởi các hạt chất tan.

Năm 1857

       Runđônfơ Clauzius (1822 - 1888) phủ nhận quan điểm phổ biến thời đó cho rằng các ion tạo thành trong điện trường, giữa các điện cực. Bằng thực nghiệm, ông đã chứng minh rằng dòng điện chỉ có tác dụng định hướng các . Ion về điện cực.

Năm 1858

      Nhà hoá học Nga Đ.N. Abaxep (1829 - 1880) đã mở đầu nghiên cứu về tính hoà tan lẫn nhau của các chất lỏng.

Năm 1865

      Đimitri Ivanôvich Menđêlêep (1834 - 1907) công bố luận án tiến sĩ với đề tài : "Về sự kết hợp của rượu với nước". Công trình này của ông mở đẩu cho các nghiên cứu cơ bản về dung dịch.

Năm 1875 - 1883

      Fridric Vinhemmơ Cônraosơ (1849 - 19,10) đã công bố nội dung các nghiên cứu về tính dẫn điện của dung dịch muối trong nước, bazơ và axit với nồng độ khác nhau. Những nghiên cứu này tạo cơ sở cho sự ra đời của thuyết điện li. Cônraosơ đã xây dựng phương pháp đo độ dẫn điện của dung dịch mà ngày nay vẫn đang được sử dụng.

Năm 1877

      Vinhemmơ Pfecfero (1845 - 1920) tiến hành định lượng áp suất thẩm thấu của các dung dịch,

Trong cuốn "Cơ sở hoá học" xuất bản lần thứ ba, Đ.l. Menđêlêep đưa ra khái niệm mới về "dung dịch" : "Dung dịch… là hợp chất với nước...". Sau này Menđêlêep phát triển khái niệm này thành thuyết hiđrat về dung dịch.

Năm 1878 -1887

     Frăngxoa Mari Raun (1830 - 1901) nghiên cứu sự phụ thuộc độ giảm nhiệt độ đông đặc của dung dịch vào bản chất của dung môi, nổng độ dung dịch và các yếu tố khác, ông xác định rằng : giữa độ giảm áp suất hơi trên dung dịch, độ giảm nhiệt độ đông đặc và khối lượng phân tử chất tan có mối quan hệ chặt chẽ. Raun nghiên cứu sô' lượng lớn dung dịch các chất hữu cơ trong nước, đo nhiệt độ đông đặc của các dung dịch rượu khác nhau v.v... Trên cơ sở các kết quả thu được, Raun đã đi đến kết luận (1884) rằng : nhiệt độ đông đặc của dung dịch không phụ thuộc vào đặc tính chất tan, mà chỉ phụ thuộc vào tĩ lệ giữa số tiểu phân chất tan và số tiểu phân dung môi. Raun là người đầu tiên chỉ ra khả năng sử dụng mối quan hệ phụ thuộc đó để xác định khối lượng phân tử của chất tan.

Năm 1881 - 1883

      Nhà vật lí và hoá học Thụy Điển Xvante Arêniuyt (1859 - 1927), trong phòng thí nghiêm của Viện Hàn lâm Khoa học stôckhôm, bắt đầu nghiên cứu về độ dẫn điện của các dung dịch loãng trong nước với mục đích xây dựng phương pháp xác định khối lượng phân tử của chất tan Kết quả là công trình nghiên cứu đẩu tiên của Arêniuyt được công bố và trở thành cơ sở cho sự phát triển thuyết điện li.

NĂm 1884

       Arêniuyt bảo vệ luận án tiến sĩ về thuyết điện li, trong đó ông trình bày nội dung thuyết do ông đề xướng, đồng thời mô tả kết quả nghiên cứu về 45 chất điện li.

     Những kết luận do ông đúc rút và công bố làm cho người đương thời bất ngờ, lúc đầu không được thừa nhận. Vinhemmơ Oxtwan (1853 - 1932) là người đầu tiển chú ý đến tính đúng đắn về kết quả nghiên cứu của Arêniuyt. ông đã viết : "Suốt đời tôi sẽ không quên ngày mà tôi bắt gặp cái tên Xvante Arêniuyt. Đó là một ngày tháng sáu năm 1884, khi trong tay tôi cầm bài báo của Xvante. Đọc bài báo rất khó hiểu, và tôi đã phải qua một đêm đầy căng thẳng với những giấc mơ tồi tệ. Những điều ông mô tả trong bài viết khác hẳn với những điều thông thường đã biết, lúc đầu khiến tôi hiểu sai lệch và cho rằng đó là những điều vô lí. Nhưng sau đó, những tính toán của nhà khoa học rất trẻ, tác giả của bài báo, đã thu hút tôi: từ tính toán, tác giả thu được những kết quả như những kết quả do chính tôi đã đạt được, nhưng bằng cách khác. Cuối cùng thì tôi hiểu ra rằng : một vấn đề lớn về sự giống nhau giữa axỉt và bazơ - vấn đề mà trong thâm tâm tôi định dành cả đời mình để nghiên cứu, giờ đã được giải quyết".

Năm1885

      Lacôp Henđrỉc Van Hôp (1852 - 1911) công bố công trình "Cân bằng hoá học trong hệ khí và trong các dung dịch loãng". ông đã xác định được các định luật cho dung dịch loặng tương tự như các định luật Bôilơ và Gay Luyxăc đối với chất khí:

     1. Ở  nhiệt độ không đổi, áp suất thẩm thấu tỉ lệ thuận vói nồng độ (giống định luật Bôilơ - Mariôt).

   2Áp suất thẩm thấu tỉ lệ thuận với nhiệt độ tuyệt đối (giống định luật Gay Luyxăc).

  3. Những lượng chất tan chứa số phân tử bằng nhau tạo ra áp suất như nhau ỏ cùng điều kiện.

Trong công trình này, Van Hôp phát triển lí thuyết vật lí về dung dịch.

NĂm 1887

      Trong thư gửi Van Hôp, Arêniuyt thông báo kết quả vô cùng quan trọng của ông về mối quan hệ giữa sự sai khác về áp suất thẩm thấu của dung dịch và độ điện li.

     Trong thư gửi ôlivec Lôgia, Arêniuyt lần đầu tiên thông báo về thuyết điện li. Cũng trong năm đó, người ta cho đăng .tải công trình của Arêniuyt : "Về sự điện li của các chất hoà tan trong nước". Trong đó một lí thuyết mới đã ra đời: 'Trong dung dịch, các phân tử chất điện li bị phân tích ra thành các ion mang điện”.

Đ.l.Menđêlêep công bố công trình : "Nghiên cứu về các dung dịch nước, theo trọng lựợng riêng". Trong bài viết ông nhận xét: không có ranh giới đáng kể giữa sự hoà tan và các hiện tượng thuần tuý hoá học. Trong công trình này. ông đã trình bày các cơ sở của thuyết hiđrat về dung dịch.

Năm 1888 - 1890

       Hecman Vantec Nerst (1864 - 1941) xác định sự phụ thuộc giữa độ linh động của ion trong dung dịch và hệ số'khuếch tán của chất điện li.

Năm 1891

      Morixơ Leplan chỉ ra rằng : để bắt đầu thực hiện sự điện phân đòi hỏi phải có điện thế chính xác nhất định, tuỳ thuộc vào bản chất của chất điện II.

      Leplan là người đầu tiên gọi thế đó là thế phân huỷ. Ngay từ 1838, Maicơn Faradây cũng cho rằng phải tồn tại thế đó.

      Ivan Alêchxêvich Caplucôp (1857 - 1942) bảo vệ luận án tiến sĩ,với nội dung phát triển tiếp tục thuyết điện li. Đặc biệt quan trọng là trong luận án ông đưa ra các khái niệm về lực phân li của dung môi và sự hiđrat hoá ion. Caplucôp đã làm cho thuyết Arênỉuyt và thuyết hiđrat của Menđêlêep xích lại gần nhau.

Năm 1923 - 1925

            Pitee Đơbai và Ecst Hucken xây dựng các cơ sở của học thuyết về các chất điện li mạnh.

       Ngày nay, việc nghiên cứu về dung dịch rất phong phú và đa dạng. Người ta đã có hiểu biết sâu sắc về bản chất lực tương tác giữa các tiểu phân dung môi và chất tan ; hiệu ứng gây ra do quà trình hoà tan các chất vào nhau... Biết sử dụng quy luật biến đổi tính chất của dung dịch vào mục đích khoa học và đời sống.

 

(Tài liệu: Sự phát triển của hóa học)

Vì sao có thể dự đoán nguyên tố chưa tìm thấy?

2013-12-30 09:16

    Vào năm 1886 nhà hoá học Đức Winkler tìm được nguyên tố hoá học mới là gecmani (Ge). Điều kì lạ là 15 năm trước đó, tức năm 1871, lúc mà chưa ai nghĩ ra có thể có nguyên tố gecmani, nhà hoá học Nga Mendeleev đã nói một cách cính xác về việc có một nguyên tố hoá học có những đặc điểm như là nguyên tố gecmani mà Winkler tìm ra. Bảng so sánh sau đây về tính chất nguyên tố gecmani giữa dự đoán của Mendeleev và dữ liệu thực nghiệm do Winkler tìm ra cho ta thấy các dự đoán của Mendeleev chính xác cỡ nào?

Tính chất
Dự đoán của Mendeleev
Dữ liệu thực nghiệm
Khối lượng nguyên tử
72
72,5
Tỷ trọng
5,5
5,47
Tính tan
Là kim loại không tan trong HCl
Không tan trong HCl
Công thức oxit
MO2
GeO2
Tỷ trọng oxit
4,7
4,7
 
Oxit của nó dễ bị khử thành kim loại
Trong dòng khí hidro, GeO2 bị khử thành Ge kim loại.
Tính kiềm
Hidroxit của nguyên tố có tính kiềm yếu
Ge(OH)4 là kiềm yếu
Tính chất của hợp chất clorua

Clorua của nó có công thức là MCl4 , dễ bay hơi, nhiệt độ sôi là 90 độ, tỷ trọng 1,9.

GeCl4 là chất lỏng, sôi ở 83 độ, tỷ trọng là 1,887.
 
        Lời dự đoán của Mendeleev không phải là "nhắm mắt nói mò", ông dựa vào suy luận khoa học thực tế để đưa ra.
 
        Vào thời Mendeleev, giữa thế kỉ thứ XIX, người ta đã phát hiện ra hơn 60 nguyên tố hoá học, cả 60 nguyên tố đều được phát hiện một cách riêng rẽ. Còn việc có bao nhiêu loại nguyên tố thì không ai biết được.
 
        Chính vì để giải đáp vấn đề này, các nhà khoa học bắt đầu tìm hiểu quy luật của các nguyên tố. Có người dựa vào tính chất vật lí của các nguyên tố như điểm nóng chảy, điểm sôi, màu sắc, trạng thái vật lí, tỷ trọng, độ cứng, tính dẫn điện, dẫn nhiệt v.v ..để xếp loại, có người dựa vào tính chất hoá học như hoá trị, tính axit, tính kiềm, để phân loại nhưng chưa có ai tìm ra quy luật.
 
        Mendeleev độc lập, tổng kết những tri thức kinh nghiệm của người đi trước, quýêt định dùng một biện pháp mới; ông đã dựa vào thuộc tính vốn có, không chịu ảnh hưởng của ngoại cảnh tức là khối lượng nguyên tử của nguyên tố và hoá trị cảu các nguyên tố làm cơ sở để tìm ra quy luật của các nguyên tố.
 
        Trước Mendeleev, căn cứ vào các số đo về khối lượng nguyên tử, người ta sắp xếp các nguyên tố như bảng sau đây:
Nguyên tố
Hidro
Liti
Bo
Cacbon
Beri
Nitơ
Oxi
Flo
Khối lượng nguyên tử
1
7
11
12
13,5
14
16
19
Hoá trị
+1
+1
+3

+4
-4

+2

+4
-3

+6
-2

+7
-1

        Mendeleev xem xét và thấy vị trí của beri có vấn đề bỏi vì xét về hoá trị thì beri phải giữa liti và bo thế thì khối lượng của nó phải ở giữa liti và bo, như vậy khối lượng của beri phải là 9 tức là thêm hai và trừ 2 vào khối lượng nguyên tử liti và bo, chứ không phải là 13,5. Do vậy các nhà khoa học đã kiểm tra, đo đạc lại khối lượng nguyên tử của beri một lần nữa bằng thực nghiệm và quả nhiên thấy khối lượng của beri là 9 chứ không phải là 13,5.
 
        Ngoài beri, Mendeleev còn cải chính lại khối lượng nguyên tử của 7 nguyên tố hoá học khác như inđi, urani, ytri, osmi, platin, titan và iridi. Các giá trị khối lượng nguyên tử trước đó của các nguyên tố này ai cũng cho là chính xác, trước Mendeleev không có ai dám nghi ngờ.
 
        Vào thời đó, người ta chỉ mới phát hiện được hơn 60 nguyên tố, thế nhưng qua việc phân tích, tổng hợp, Mendeleev so sánh đặc tính đã biết đựơc của các nguyên tố, ông nhận thấy việc sắp xếp một nguyên tố hoá học nào đó so với các nguyên tố ở bên trên bên dưới, bên trái, bên phải có một mối liên hệ nội tại. Có những nguyên tố lúc đó còn chưa được phát hiện nhưng sớm muộn nhất định cũng sẽ được phát hiện, vì vậy trong bảng sắp xếp cần để trống vị trí dành cho các nguyên tố đó.
 
        Mendeleev đã tổng hợp các đặc tính của các nguyên tố và tìm ra quy luật thay đổi tuần hoàn các nguyên tố hoá học, rồi vận dụng quy luật tuần hoàn các nguyên tố hoá học, sắp xếp thành bảng tuần hoàn các nguyên tố hoá học. Các vị trí trên bảng cho dù đã có các nguyên tố tương ứng hoặc có thể có các vị trí còn chưa phát hiện thấy các nguyên tố tương ứng thì bản thân vị trí đó cũng nêu rõ đầy đủ các đặc tính của các nguyên tố còn chưa biết đó. Dựa vào đó Mendeleev đã dự đoán về nguyên tố gecmani. Phía trái của gecmani là gali có khối lượng nguyên tử là 69,72. Phía bên phải là nguyên tố asen có khối lượng nguyên tử là 74,92. Phía trên là nguyên tố silic có khối lượng nguyên tử là 28,08. Ở phí dưới là nguyên tố thiếc có khối lượng nguyên tử là 118,6 , trung bình cộng về khối lượng nguyên tử của 4 nguyên tố ở bên trái, phải, trên, dưới là 72,86 mà khối lượng nguyên tử thực của gecmani là 72,5. Rõ ràng điều đó không phải là ngẫu nhiên mà lo có tính quy luật.
 
        Việc tìm ra định luật tuần hoàn của các nguyên tố hoá học không chỉ là kết thúc trạng thái cô lập, hỗn độn của hơn 60 nguyên tố hóa học mà cũng làm cho người ta từ nhận thức mông lung về các nguyên tố hoá học tìm được quy luật và đó là con đường theo đó ngưới ta tìm được các nguyên tố mới.
 
        Ngày nay người ta đã phát hiện được gần nguyên tố hoá học theo chỉ dẫn của quy luật tuần hoàn người ta còn có thể tìm được các nguyên tố mới khác nữa.

(Tài liệu: Chìa khóa vàng hóa học)

Tranh luận về sự sống - Hóa học hữu cơ

2013-12-30 09:19

        Sau khi xác định được bản chất sự cháy lại nảy sinh tranh luận về bản chất sự sống cũng như khác biệt căn bản giữa chất vô cơ và hữu cơ khởi từ việc ông Friedrich Wöhler tình cờ tổng hợp được u rê từ chất vô cơ năm 1828. Trước đó chưa có một chất hữu cơ nào được tổng hợp từ nguồn hữu cơ, nên phát hiện này đã dẫn đến sự ra đời của hóa học hữu cơ và đến cuối thế kỉ 19 các nhà khoa học đã tổng hợp thành công hàng trăm hợp chất hữu cơ, như màu nhuộm, aspirin.

(Sưu tầm từ internet)

Nguồn gốc tên gọi của các nguyên tố

2013-12-30 09:20

Mỗi lần học Hóa học có bao giờ bạn thắc mắc vì sao các nguyên tố Hóa học có tên gọi như vậy? Vì sao lại gọi nguyên tố ở ô thứ 18 trong bảng hệ thống tuần hoàn là Argon? Vì sao lại gọi nguyên tố ở ô thứ 101 là Mendelevi?... Vì vậy hiểu rõ lai lịch và hàm ý của tên gọi các nguyên tố hóa học không chỉ lý thú mà từ đó còn biết một số tính chất nào đó, tình trạng tồn tại và lịch sử phát hiện của các nguyên tố.

Sau đây là ý nghĩa của tên gọi một số nguyên tố hóa học

STT
Tên Kí hiệu Năm Người tìm ra Nguồn gốc tên gọi
1
Hiđro
H
1776
Henry Cavendish
Từ tiếng Hi Lạp Hydro có nghĩa là tạo nước.
2
Heli
He
1868
Pierre-Jules-Cesar Janssen
 
Từ tiếng Hilạp helios có nghĩa là mặt trời. Nó được tìm ra bởi kính quang phổ khi nó quay quanh sắc cầu mặt trời.
3
Liti
Li
1818
Johan August Arfvedson
Từ tiếng Latinh lithos nghĩa là đá vì họ nghĩa là liti chỉ tồn tạo trong khoáng vật khi lần đầu tiên tìm thấy nó.
4
Beri
Be
1798
Nicholas-Louis Vauquelin
Từ tiếng Hi lạp 'beryl' nghĩa là đá quý vì nó được tìm thấy lần đầu trong đá quý.
5
Bo
B
1808
Humphry Davy
Từ tiếng Ả rập buraq nghĩa là trắng.
6
Cacbon
C
-
Biết từ cổ xưa
Từ tiếng Latinh carbo nghĩa là than đá. Năm 1797, Smithson Tennant chỉ ra kim cương là cacbon tinh khiết.
7
Nitơ
N
1772
Daniel Rutherford
Từ tiếng Hi lạp nitrium nghĩa là sinh ra diêm tiêu.
8
Oxi
O
1774
Joseph Priestly
Từ tiếng Hi lạp oxys nghĩa là sinh ra axit.
9
Flo
F
1886
Ferdinand Frederic, Henri Moissan
Từ tiếng Latinh có nghĩa là chất trợ dung. Vì quặng fluorspars được dùng làm chất trợ dung trong luyện kim vì nó có nhiệt độ nóng chảy thấp.
10
Neon
Ne
1898
Sir William Ramsay , Morris M. Travers
Từ tiếng Hilạp nghĩa là mới
11
Natri
Na
1807
Sir Humphry Davy
Từ tiếng Anh là soda và từ tiếng Latin sodanum nghĩa là trị đau đầu.
12
Magie
Mg
1808
Sir Humphry Davy Từ Magnesia một miền ở Thessalia ở miền bắc Greece .
13
Nhôm
Al
1825
Hans Christian Oersted Từ tiếng Latin alum và alumen.
14
Silic
Si
1924
Jons Jacob Berzelius Từ tiếng Latin silex and silicisnghĩa là viên đá lửa.
15
Photpho
P
1669
Hennig Brand Từ tiếng Hy Lạp phosphorus nghĩa là mang lại ánh sáng.
16
Lưu huỳnh
S
-
Biết từ cổ xưa
Từ tiếng Latin sulfurium and the Sanskrit sulveri
17
Clo
Cl
1774
Carl Wilhelm Scheele Từ tiếng Hy Lạp chloros nghĩa là xanh nhạt, từ màu của nguyên tố.
18
Argon
Ar
1894
Sir William Ramsay, Lord Raleigh Từ tiếng Hy Lạp argos nghĩa là khí lười vì nó không kết hợp với nguyên tố nào.
19
Kali
K
1807
Sir Humphry Davy
Từ tiếng Anh potash vì nó được tìm thấy trong kiềm ăn da(KOH). kí hiệu hoá học lấy từ tiếng Latin kalium và tiếng Ả rập qali for alkali
20
Canxi
Ca
1808
Sir Humphry Davy Từ tiếng Latin calx nghĩa là vôi vì nó được tìm thấy trong vôi.
21
Scandi
Sc
1879
Lars Fredrik Nilson Từ tiếng Latin scandia hoặcScandanavia là nơi nó được tìm thấy.
22
Titan
Ti
1791
The Reverend William Gregor Từ tiếng Latin titans, một vị thần.
23
Vanadi
V
1801
1830
Andres Manuel del Rio y Fernandez/Nils Gabriel Sefstrom Từ Scandanavian Freyja Vanadis, vị thần tình yêu và sắc đẹp.
24
Crom
Cr
1797
Louis-Nicholas Vauquelin Từ tiếng Hy lạp chroma nghĩa là màu sắc.
25
Mangan
Mn
1774
Johan Gottlieb Gahn Từ tiếng Latin magnes nghĩa là nam châm vì oxit của nó có từ tính.
26
Sắt
Fe
-
Biết từ xưa Từ tiếng Anglo Saxon iron. Kí hiệu từ tiếng Latin ferrum nghĩa là chắc, bền.
27
Coban
Co
1739
Georg Brandt Từ tiếng Đức. Kobold tên của bọn quỷ Cobon xảo quyệt trong các chuyện thần thoại.
28
Niken
Ni
1751
Axel Fredrik Cronstedt Tên của con lùn lão Nick trong những truyền thuyết của thợ mỏ.
29
Đồng
Cu
-
Biết từ xưa Từ tiếng Latin cuprum là 'Cyprus' nơi mà người La Mã lấy được đồng.
30
Kẽm
Zn
-
Biết từ xưa Từ tiếng Đức : zink
31
Gali
Ga
1875
Paul-Emile Lecoq de Boisbaudran Tên Latinh cổ của nước Pháp.
32
Germani
Ge
1886
Clemens Winkler Tên của nước Đức
33
Asen
As
-
Biết từ xưa Từ tiếng Latin arsenicum và từ tiếng Hy lạp arsenikos nghĩa là quặng màu vàng,
34
Selen
Se
1817
Jons Jacob Berzelius Từ tiếng Hy lạp Selene (Mặt trăng)
35
Brôm
Br
1826
Antoine-Jerome Balard Từ tiếng Hy lạp bromos là hôi thối.
36
Kripton
Kr
1898
Sir William Ramsay, Morris M. Travers Từ tiếng Hy lạp kryptos là ẩn náu.
37
Rubidi
Rb
1861
Robert Bunsen, Gustav Kirchoff Từ tiếng Latin rubidus là đỏ thẫm.
38
Stronti
Sr
1792
Thomas Charles Hope Từ tên Strontian một tỉnh ở Scotland nơi mà khoáng của Stronti được tìm thấy.
39
Ytri
Y
1794
Johan Gadolin Từ tên một làng ở Thuỵ Điển Ytterby nơi mà quặng gadolinite (ytterbite) được tìm thấy.
40
Ziconi
Zr
1789
Martin Heinrich Klaproth Từ tiếng Ả rập zargun nghĩa là giống như vàng.
41
Niobi
Nb
1801
Charles Hatchett Từ tiếng Hy lạp Niobe, con gái của Tantalusdo họ người ta nghĩ niobium và tantalum là những nguyên tố tương tự nhau.
42
Molipđen
Mo
1789
Carl Welhelm Scheele Từ tiếng Hy lạp molybdos nghĩa là chì.
43
Tecnexi
Tc
1937
Carlo Perrier, Emilio Segre Từ tiếng Hy lạp technetos nghĩa là nhân tạo.
44
Ruteni
Ru
1844
Karl Karlovich Klaus Từ tiếng latin ruthenia tên cũ của nước Russia
45
Rođi
Rh
1803
William Hyde Wollaston Từ tiếng Hy lạp rhodon nghĩa là hoa hồng vì màu của hoa hồng giống màu muối của nó.
46
Paladi
Pd
1803
William Hyde Wollaston Từ tên một hành tinh nhỏ thứ hai trong hệ Mặt Trời , Pallus, đặt theo tên của Nữ thần thông thái và nghệ thuật , Pallas Athene, tên của nguyên tố đặt sau khi tìm ra nguyên tố một năm sau khi tìm ra hành tinh này.
47
Bạc
Ag
-
Bíêt từ xưa Từ tên Anglo-Saxon seofor và siolfur. Kí hiệu hoá học lấy từ tên Latinh argentum và Sanskrit argunas nghĩa là sáng.
48
Cadimi
Cd
1817
Friedrich Strohmeyer Từ tên Hy Lạp kadmeia nghĩa là calamine, kẽm cacbonat vì nó được tìm thấy trong quặng kẽm cacbonat trong tự nhiên.
49
Inđi
In
1863
Ferdinand Reich, Hieronymus Theodor Richter Từ tên indigo nghĩa là phổ màu xanh indigo của nó.
50
Thiếc
Sn
-
Bíêt từ xưa Từ tên Anglo-Saxon tin. Kí hiệu hoá học từ tên Latin stannum
51
Stibi
Sb
-
Bíêt từ xưa Từ tên Hy lạp anti and monos nghĩa là không cô đơn vì nó được tìm thấy trong nhiều hợp chất Kí hiệu hoá học Sb từ tên stibium.
52
Telu
Te
1782
Franz Joseph Muller von Reichenstein Từ tên Latin Tellus, nữ thần La Mã của Trái đất
53
Iôd
I
1811
Barnard Courtois Từ tên Hy lạp ioeides nghĩa là màu tím.
54
Xenon
Xe
1898
Sir William Ramsay, Morris M. Travers Từ tên Hy lạp xenon nghĩa là lạ.
55
Cesi
Cs
1860
Robert Wilhelm Bunsen, Gustav Robert Kirchoff Từ tên Latin caesius nghĩa là xanh da trời.
56
Bari
Ba
1808
Sir Humphry Davy Từ tên Hy lạp barys nghĩa là nặng.
57
Lantan
La
1839
Carl Gustaf Mosander Từ tên Hy lạp lanthanein nghĩa là trốn thoát vì nó ẩn náu trong mỏ ceriand và nó rất khó bị tách ra.
58
Ceri
Ce
1803
Jons Jacob Berzelius, Wilhelm von Hisinger, Martin Heinrich Klaproth Từ tên Ceres đặt sau tên Nữ thần Nông nghiệp của người La Mã.
59
Praseodym
Pr
1885
Carl F. Auer von Welsbach Từ tên Hy lạp prasios nghĩa là xanh và didymos nghĩa là song sinh vì muôis màu xanh nó tạo thành . Carl F. Auer von Welsbach tách praseodymi và neodymium từ một mẫu didymi.
60
Neodym
Nd
1885
Carl F. Auer von Welsbach Từ tên Hy lạp neos nghĩa là mới' và 'didymos' nghĩa là song sinh ấu khi Carl Auer von Welsbach tách didymium thành nhứng nguyên tố mới, một trong những nguyên tố đó ông gọi là neodymi.
61
Prometi
Pm
1944
Jacob A. Marinsky, Lawrence E. Glendenin, Charles D. Coryell Từ tên Prometheus người cướp lửa từ thiên đàng và trao nó cho loài người.
62
Samari
Sm
1878
Marc Delafontaine Từ tên khoáng Samarskite trong đó nó được tìm thấy và nó được đặt tên sau của Colonel von Samarski, một viên chức mỏ ở Nga.
63
Europi
Eu
1896
Eugene-Antole Demarcay Từ tên châu Âu Europe. Ông Demarcay cô lập được europi vào năm 1901.
64
Gadolini
Gd
1880
Jean Charles Galissard de Marignac Từ tên khoáng gadolinite có chứa nó và nó đựơc đặt theo tên của nó Johan Gadolin
65
Terbi
Tb
1843
Carl Gustaf Mosander Từ tên làng Ytterby, Thuỵ Điển nơi mà khoáng ytterbite được tìm thấy.
66
Dysprosi
Dy
1886
Paul-Emile Lecoq de Boisbaudran Từ tên Hy lạp dysprositos nghĩa là khó để lấy được bởi vì rất khó để tách tách dysprosium từ khoáng holmium.
67
Holmi
Ho
1879
Per Theodor Cleve Từ tên Latin holmia nghĩa là Stockholm, hoặc có lẽ từ tên Holmberg người đầu tiên cô lập được nó.
68
Erbi
Er
1843
Carl Gustaf Mosander Từ tên tỉnh Ytterby, Thuỵ Điển nơi mà khoáng gadolinite được lần đầu khai thác.
69
Thuli
Tm
1879
Per Theodor Cleve Từ tên Thule, tên đầu tiên của Scandanavia
70
Yterrbi
Yb
1878
Jean Charles Galissard de Marignac Từ tên làng Ytterby, Thuỵ Điển nơi mà khoáng ytterbite được tìm thấy.
71
Luteni
Lu
1907
Georges Urbain Từ tiếng Latin lutetia tên Latin của thành phố Paris.
72
Hafini
Hf
1923
Dirk Coster, Charles de Hevesy Từ tiếng Latin hafnia nghĩa là Copenhagen nơi mà nguyên tố được phát hiện.
73
Tanta
Ta
1802
Anders Gustaf Ekeberg Từ tên Hy lạp tantalos.
74
Vôn fram
W
1783
Don Juan Jose and Don Fausto d'Elhuyar Từ tiếng Thuỵ Điển tung stennghĩa là đã nặng. Kí hiệu hoá học từ tiếng Đức wolfram.
75
Reni
re
1925
Ida Tacke-Noddack, Walter Noddack, Otto Carl Berg Từ tiếng Latin rhenus.
76
Osmi
Os
1803
Smithson Tennant Từ tên Hy lạp .
77
Iridi
Ir
1803
Smithson Tennant Từ tiếng Latin Iris, Nữ Thần Cầu Vồng Hy Lạp vì nó có màu sắc khác nhau trong các dung dịch muối của nó.
78
Platin
Pt
1735
Antonio de Ulloa Từ tiếng Tây Ban Nha platina nghĩa là bạc.
79
Vàng
Au
-
Biết từ xưa Lấy từ tiếng La Tinh aurum nghĩa là bình minh.
80
Thuỷ ngân
Hg
-
Biết từ xưa Từ tên vị thần La Mã Mercury. Kí hiệu lấy từ tiếng Hy Lạp hydragyrium nghĩa là nước bạc.
81
Tali
Tl
1861
Sir William Crookes Từ tên Hy lạp thallos nghĩa là tia xanh lục vì nó có màu sáng xanh trong phổ của nó.
82
Chì
Pb
-
Biết từ xưa Từ tiếng Anglo Saxon "lead". Kí hiệu của nguyên tố lấy từ tiếng Latin plumbum nghĩa là chì.
83
Bitmut
Bi
1753
Claude-Francois Geoffroy the Younger Từ tiếng Đức nghĩa là khối màu trắng, vì oxit nó màu trắng.
84
Poloni
Po
1898
Pierre and Marie Curie Từ tên Poland, tên quê hương cũ của Marie Sklodowska Curie
85
Astatin
At
1940
Dale R. Carson, K.R. MacKenzie, Emilio Segre Từ tên Hy lạp astatos nghĩa là không bền vì nó là một nguyên tố không bền.
86
Radon
Rn
1900
Friedrich Ernst Dorn Nó được gọi bắt nguồn từ tên radi vì nó là sản phẩm phân rã của radi .
87
Franxi
Fr
1939
Marguerite Catherine Perey Từ tên France, quốc gia mà nó được phát hiện ra lần đầu tiên.
88
Radi
Ra
1898
Marie Sklodowska Curie, Pierre Curie Từ tên Latin radius nghĩa là tia hoặc dòng.
89
Actini
Ac
1899
Andre-Louis Debierne Từ tên Hy lạp aktis or akinis nghĩa là tia hoặc dòng vì nó là một nguồn phóng xạ alpha tốt.
90
Thori
Th
1828
Jons Jacob Berzelius Từ tênThor, thần sấm của người Scandanavi
91
Protactini
Pa
1913
Kasimir Fajans, O.H. Gohring Từ tên Hy lạp protos nghĩa là đầu tiên.
92
Urani
U
1789
Martin Heinrich Klaproth Tên hành tinh Uranus , Uranus được phát hiện năm 1781.
93
Neptuni
Np
1940
Edwin M. McMillan, Philip H. Abelson Tên hành tinh Neptune,hành tinh này kế tiếp trong hệ Mặt trời sau hành tinh Uranus, nguyên tố này sau nguyên tố urani nên có tên gọi như vậy.
94
Plutoni
Pu
1941
Glenn T. Seaborg, Joseph W. Kennedy, Edward M. McMillan, Arthur C. Wohl Tên hành tinh Pluto, hành tinh này kế tiếp trong hệ Mặt trời sau hành tinh Neptuni, nguyên tố này sau nguyên tố neptuni nên có tên gọi như vậy.
95
Americi
Am
1944
Glenn T. Seaborg, Ralph A. James, Leon O. Morgan, Albert Ghiorso Từ sự tương đồng với nguyên tố Europi ở vị trí thứ sáu thuộc họ Lantan.
96
Curi
Cm
1944
Glenn T. Seaborg, Ralph A. James, Albert Ghiorso Tên nhà bác học'Pierre và Marie Curie' người tìm ra radium và polonium .
97
Berkeli
Bk
1949
Glenn T. Seaborg, Stanley G. Thompson, Albert Ghiorso Từ tên Berkeley, California, nơi tổng hợp ra nó.
98
Californi
Cf
1950
Stanley G. Thompson, Glenn T. Seaborg, Kenneth Street, Jr., Albert Ghiorso Bang và trường đại học California nơi tìm ra nguyên tố.
99
Einstein
Es
1952
Albert Ghiorso Tên nhà bác học 'Albert Einstein'.
100
Fecmi
Fm
1952
Albert Ghiorso Tên nhà bác học Enrico Fermi
101
Mendeleev
md
1955
Stanley G. Thompson, Glenn T. Seaborg, Barnard G. Harvey, Gregory R. Choppin, Albert Ghiorso Tên nhà bác học Dimitri Mendeleev
102
Nobel
No
1958
Albert Ghiorso, Glenn T. Seaborg, Torbjorn Sikkeland, John R. Walton Tên nhà bác học Alfred Nobel
103
Laurenxi
Lr
1961
Albert Ghiorso, Torbjorn Sikkeland, Almon E. Larsh, Robert M. Latimer Tên nhà bác học Ernest O. Lawrence
104
Rutherford
RE
1964
1969
Những nhà khoa học Nga ở Dubna / Albert Ghiorso Tên nhà bác học Ernest Rutherford
105
Dubni
Db
1967
1970
Những nhà khoa học Nga ở phòng thí ngiệm Dubna / Lawrence Berkeley Từ tên Dubna , một trung tâm nghiên cứu cuả Nga
106
Seaborg
Sg
1974
Albert Ghiorso Tên nhà bác học Glenn Theodore Seaborg
107
Bohr
Bh
1981
Centre for Heavy-Ion Research , Germany Tên nhà bác học Niels Bohr
108
Hassi
Hs
1984
Peter Armbruster, Gottfried Munzenber Từ tên Latin hassia.
109
Meitneri
Mt
1980
Peter Armbruster, Gottfried Munzenber Từ tên Lise Meitner người phát hiện ra protactini
110
Darmstadti
Ds
1994
Peter Armbruster, Gottfried Munzenber Từ Darmstadt tên địa điểm đặt trung tâm nghiên cứu.
111
 
-
1994
Toàn thể các nhà khoa học ở trung tâm nghiên cứu Heavy Ion Research Centre, Darmstadt, Đức
Chưa đặt tên.
112
 
-
1996
Toàn thể các nhà khoa học ở trung tâm nghiên cứu Heavy Ion Research Centre, Darmstadt, Đức
Chưa đặt tên.
114
 
-
1998
Toàn thể các nhà khoa học ở viện nghiên cứu hạt nhân the Joint Institute for Nuclear Research, Dubna, Nga
Chưa đặt tên.
116
 
-
2000
Toàn thể các nhà khoa học ở viện nghiên cứu hạt nhân the Joint Institute for Nuclear Research, Dubna, Nga
Chưa đặt tên.
 

(Tài liệu: truyện kể 109 nguyên tố hóa học)

Lịch sử Hóa học

2013-12-30 09:20
    Lịch sử ngành hóa học có lẽ được hình thành cách đây khoảng 4000 năm khi người Ai Cập cổ đại lần đầu dùng kĩ thuật tổng hợp hóa học dạng "ướt". Đến thời kì 1000 năm trước Công nguyên một số nền văn minh đã dùng những kĩ thuật hóa học vẫn còn giá trị nền tảng cho đến tận ngày nay, như: luyện thép từ quặng sắt, làm đồ gốm, lên men rượu bia, tạo ra màu để sơn và trang trí, chiết xuất tinh chất từ thực vật làm thuốc hay nước hoa, làm phô mai, nhuộm quần áo, thuộc da, chế biến mỡ thành xà bông, làm ra thủy tinh, chế tạo hợp kim chẳng hạn đồng.

Cách tiếp cận đến bản chất của thế giới vật chất và những chuyển hóa trong đó theo kiểu triết học thời cổ đại cũng như theo kiểu giả kim thuật đã không thành công, nhưng bằng cách làm thực nghiệm và ghi lại kết quả các nhà giả kim đã đặt nền móng cho phương pháp khoa học sau này. Năm 1661 ông Robert Boyle bằng công trình The Sceptical Chymist đã tách biệt hẳn giả kim thuật và hóa học, mở ra thời kì mới cho hóa học hiện đại.
    Hóa học trở thành ngành khoa học theo nghĩa đầy đủ khi Antoine Lavoisier nêu ra định luật bảo toàn khối lượng, đòi hỏi các đại lượng hóa học phải được định lượng và đo lường cẩn thận. Vì thế mà dù cả giả kim thuật lẫn hóa học đều quan tâm đến bản chất của vật chất và sự chuyển hóa của chúng nhưng chỉ có nhà hóa học, chứ không phải nhà giả kim, dùng phương pháp khoa học trong nghiên cứu. Lịch sử hóa học thường được gắn với lịch sử nhiệt động học, nhất là từ công trình của Willard Gibbs.
 

(Tài liệu: Sự phát triển của hóa học)

Từ lửa đến Nguyên tử luận

2013-12-30 09:21
    Điều đang còn tranh luận là việc tự tạo ra lửa phải chăng là phản ứng hóa học đầu tiên con người có thể kiểm soát được. Do thiếu hiểu biết có khoa học mà trong hàng triệu năm nhân loại xem lửa như là một thực thể thần bí có khả năng biến chất này thành chất khác (chẳng hạn đốt cháy gỗ thành than, biến nước sôi thành hơi), tạo ánh sáng và hơi nóng. Lửa có vai trò tối quan trọng trong xã hội sơ khai, dùng cho những sinh hoạt cơ bản như nấu nướng, soi sáng, sưởi ấm đến những kĩ thuật cao thời đó như làm đồ gốm, nung gạch hay nấu chảy kim loại làm vật dụng.
 
    Những triết gia cổ đại trong khi cố gắng hợp lý hóa những vấn đề, chẳng hạn tại sao các chất khác nhau thì có đặc tính (màu, mùi, mật độ) khác nhau, cũng tồn tại ở những trạng thái (khí, lỏng, rắn) khác nhau, đồng thời có phản ứng khác nhau lúc tiếp xúc với môi trường (nước, lửa, nhiệt độ thay đổi) xung quanh, đã đưa ra lí thuyết sơ khởi về tự nhiên hay cụ thể là về hóa học. Những triết thuyết liên quan đến hóa học có thể nhận thấy ở bất kì nền văn minh cổ đại nào, và tựu trung đều cố gắng chỉ ra vài nguyên tố cơ bản cấu thành mọi chất khác tồn tại trong tự nhiên. Từ những khái niệm cụ thể như không khí, nước, đất, lửa, ánh sáng đến trừu tượng hơn như ý thức, thiên đường là những nguyên tố cơ bản rất phổ biến trong nhiều nền văn minh cổ như Hy Lạp, Ấn Độ, Maya, Trung Hoa.
 

    Nguồn gốc của nguyên tử luận được coi là từ Hy Lạp và Ấn Độ cổ. Theo quyển De Rerum Natura (Nguồn gốc vạn vật) của triết gia La Mã Lucretius viết năm 50 trước Công nguyên thì nguyên tử luận Hy Lạp ra đời khoảng năm 440 trước Công nguyên khi hai triết gia Democritus và Leucippus cho rằng "atom" (nguyên tử) là thành phần cơ bản nhất không thể chia nhỏ của vật chất. Cùng thời này ở Ấn Độ, triết gia Kanada cũng phát biểu tương tự trong tác phẩm Vaisheshika. Tuy vậy, phát biểu của Kanada cũng như Democritus chỉ có ý nghĩa triết học do thiếu dữ liệu thực nghiệm và cũng do thiếu chứng minh một cách khoa học nên ý niệm tồn tại nguyên tử rất dễ bị bác bỏ. Tại Hy Lạp Aristotle đã phản bác sự tồn tại của nguyên tử, còn trường phái Vaisheshika ở Ấn Độ cũng bị phản đối một thời gian dài

    Đa số các phương pháp luận mới mẻ hơn được Pliny the Elder mô tả trong quyển Naturalis Historia. Ông cố gắng giải thích chúng kèm với việc thực hiện nhiều quan sát tinh tế về trạng thái khoáng vật.

(Tài liệu: Hóa học dành cho người yêu thích)

 

<< 1 | 2 | 3 | 4 >>