Lịch sử Hóa học

Một số phát minh quan trọng nhất về hoá học và công nghệ hoá học

2013-12-30 09:22

1748 - 1756: Phát minh của M.V.Lơmanôxôp về định luật bảo toàn khối lượng.
1774 - 1783: A. Lavoađiê (Pháp) thiết lập thành phần của không khí, khí cacbonic, nước, đặt tên cho ôxi và hiđrô và sáng tạo thuyết ôxi về sự cháy.
1789: Ở Pháp xuất bản cuốn giáo trình của A.Lavoadiê có nêu cách phân loại các hợp chất.
1790: T.Lôvit (Nga) phát minh hiện tượng hấp phụ chất hoà tan bởi than.
1802 - 1803: V.Pêtrôp (Nga) phát hiện hiện tượng hồ quang và chứng minh khả năng ứng dụng nó để chiếu sáng, nấu chảy kim loại và khử kim loại khỏi ô xit của chúng.
1803 - 1911: Đ.Đan tôn (Anh) và A.Avôgađrô (Ý) sáng tạo ra thuyết phân tử - nguyên tử.
1807 : G. Đêvi (Anh) điều chế được kim loại kali và natri bằng điện phân.
1822 : N.Fogen (Nga) thực hiện sự thuỷ phân gỗ và rơm.
F.Vôle và sau đó Iu.Libic (Đức) lần đầu tiên quan sát được hiện tượng đồng phân (sự tồn tại nhiều chất có cùng thành phần phân tử)
1828: F.Vôle (Đức) thực hiện sự tổng hợp hữu cơ đầu tiên: chất urê
1833-1834: M.Farađây (Anh) phát minh các định luật điện phân
1837: B.S.Iacôbi (Nga) phát minh phương pháp đúc điện.

1839 - 1843: Ch.Gutđia (Mỹ) và T.Hen cốc (Anh) phát minh phương pháp lưu hoá cao su.
1840: Iu.Libic (Đức) xác định được vai trò các nguyên tố vi lượng trong sự dinh dưỡng của thực vật và động vật.
1842: N.Zinin (Nga) tổng hợp được anilin (bằng cách khử nitro benzen)
1843: Tách vàng từ quặng bằng cách xiano hoá theo phương pháp của P.Bagration (Nga)
1845-1846: A.Fađêep (Nga) và Kh. Senbai (Thuỵ Sĩ) phát minh ra piroxilin
1847: A.Xôbrerô (Ý) lần đầu tiên điều chế được nitroglixerin
1854-1864: Sản xuất thép trong lò chuyển và lò Mactanh.
1857: A. Kekule' xác định tính hoá trị bốn của cacbon, nguyên tố này có trong các hợp chất hữu cơ dưới dạng liên kết với nhau thành mạc
G.Peckin (Anh) Và Ia.Nataxon (Nga) điều chế được những thuốc nhuộm đầu tiên: movein và fucxin.
1860: Anh em Sônvây (Bỉ) thực hiện việc sản xuất sođa (Na2CO3) theo phương pháp amoniac.
1861: A. Butlerôp (Nga) thông báo về thuyết cấu tạo hoá học của các hợp chất hữu cơ do ông xây dựng.
1866: V.Pêtrusepxki (Nga) điều chế được thuốc nổ đinamit đầu tiên.
1869: Đ. Mendeleev phát minh định luật tuần hoàn
1869: Đ.Khaiat (Mỹ) sáng tạo chất dẻo đầu tiên xenluloit
1870: A.Butlerop điều chế được hợp chất polime đầu tiên
1875 - 1878: Nhiệt phân dầu mỏ và sản phẩm dầu mỏ theo phương pháp A.Letnhi (Nga)
1880: N.Lunin (Nga) phát minh ra vitamin
1881: M.Kutserop (Nga) tổng hợp anđehy axetic từ axetilen
1883: S.Sacđone (Pháp) sản xuất đợi nitro
1885-1891: P.Viêlơ (Pháp), G.Xukhaxep (Nga), A.Nôben (Thuỵ điển), F.Aben (Anh) và Đ.I.Medeleev (Nga) sáng tạo ra những loại thuốc súng không khói mới.
1886: P.Eru (Pháp) và S.Hônlơ (Mỹ) đề nghị điều chế nhôm bằng điện phân.
1890: Sản xuất clo và xút ăn da bằng điện phân.
1891: V.Sukhôp (Nga) được cấp bằng phát minh về phương pháp chế biến dầu mỏ mang tên phương pháp cracking.
1896 - 1898: Điều chế không khí lỏng theo phương pháp K.Linđe (Đức)
1896 - 1898: Sự phát minh hiện tượng phóng xạ (A.Becơren Pháp) và P.Quyri và M. Xelodopkaya (Pháp) điều chế được rađi
1897 - 1902: P.Xabachiê (Pháp) và V.Ipachiep (Nga) ứng dụng rộng rãi chất xúc tác trong tổng hợp hữu cơ.
1990: T.L.Côngđacôp (Nga) tổng hợp polime giống cao su đầu tiên
1906 - 1908: E.OOclôp (Nga) điều chế được fomaldehyd bằng cách ôxi hoá rượu mêtilic trên chất xúc tác.
1908 - 1913: F.Habe (đức) thực hiện việc tổng hợp amoniac có xúc tác từ hiđrô và nitơ
1913:I.I.Oxtromuxlenxki (Nga) tổng hợp divinil từ hỗn hợp rượu và anđehy.
1915-1917: Sản xuất axit nitric bằng cách ôxi hoá amoniac trên chất xúc tác (l.Anđreep _ Nga)
1919: E.Rơzefo (Anh) lần đầu tiên thực hiện được việc biến đổi nguyên tử của một nguyên tố không phóng xạ thành nguyên tử của nguyên tố khác bằng cách dùng hạt anfa bắn phá.
1927: Sản xuất et - xăng tổng hợp ở Đức
1927 - 1929: N.Xemênop (Liên xô) và S. Hinsevut (Anh) xây dựng thuyết phản ứng dây chuyền.
1929: A.Flêminh (Anh) phát minh ra penixilin
1931: Máy gia tốc hạt nhân được xây dựng và đưa vào hoạt động.
1928 - 1932: S.Lêbedep (liên xô) điều chế được cao su tổng hợp đầu tiên và xây dựng được quy trình sản xuất.
1932 - 1933: G.Liutxơ (Mỹ) lần đầu tiên điều chế được nước nặng bằng điện phân U.Carozecxo (Mỹ) tổng hợp được policloropren
1934: I.Quyri và F.Jolio (Pháp) phát minh hiện tượng phóng xạ nhân tạo.
1936: A.I.Đinxét ở Liên xô lần đầu tiên trên thế giới điều chế được polietilen.
1936-1937: Tổng hợp các vitamin B1 và A
1937: Thiết bị đầu tiên để hoá khí than đá ở dưới mặt đất được đưa vào hoạt đồng ở miền Đôn bát.
1937 - 1939: Ở Mỹ, sợi tổng hợp poliamit "nilông" được tổng hợp và đưa vào sản xuất.
1937 - 1940: K.Anđrianop (Liên xô) tổng hợp được hợp chất cao phân tử cơ - silic
1940: G.Flêrop và K.Pêtrơgiăc (Liên Xô) phát minh ra hiện tượng phân chia tự phát của hạt nhân uran.

1941 - 1942: Việc tổng hợp các nguyên tố mới bắt đầu.
1942: E.Xemêniđô (Liên xô) lần đầu tiên đề xuất phương pháp từ polime chế tạo ra dầu nhờn cô đặc, không bị đông ở nhiệt độ dưới 40 độ.
1944 - 1948: Nhờ các công trình của I.Bacđin và nhiều người khác (Liên xô) người ta đã sử dụng ôxi để tăng cường quá trình sản xuất kim loại và các hoá chất.
1950 - 1951: Nắm được phương pháp sản xuất công nghiệp chất kháng sinh xinto - mixin
1954: Thực hiện việc tổng hợp kim cương nhân tạo.
1957: Việc Liên xô phóng vệ tinh bay quanh quả đất mở đầu cho công cuộc chinh phục vũ trụ
1960. Tổng hợp clorophin

(Tài liệu: Hóa học dành cho người yêu thích)

 

Những người đoạt giải Nobel Hóa học thập niên 2000

2014-01-09 09:37

Những người đoạt giải Nobel Hóa học thập niên 2000
Giải thưởng Nobel là một giải thưởng quốc tế trong lĩnh vực vật lý, hoá học, y học, văn học , khoa học kinh tế và hoà bình  để tưởng nhớ nhà khoa học Alfred Nobel, người đã sáng lập ra giải Nobel. Nobel (Thụy Điển) là một nhà hóa học, nhà công nghiệp học, người phát minh ra thuốc nổ  và ông muốn giải thưởng của ông phục vụ cho nhân loại.

Giải thưởng công bố hằng năm vào tháng 10 và được trao vào ngày 10 tháng 12, ngày kỷ niệm ngày mất của Nobel. Giải thưởng bao gồm tiền thưởng, một huy chương vàng và một giấy chứng nhận. Vào ngày 4 tháng 10 vừa qua giải thưởng Nobel Hóa học vừa được trao cho nhà khoa học Mỹ Roger D. Kornberg.

* 2006: Roger D. Kornberg (Hoa Kỳ), nghiên cứu về việc tế bào lấy thông tin từ gene như thế nào để tạo ra protein.



* 2005: Yves Chauvin (Pháp), Robert H. Grubbs (Hoa Kỳ) và Richard R. Schrock (Hoa Kỳ),  phương pháp hoán vị trong tổng hợp các hợp chất hữu cơ.
 

 

* 2004: Aaron Ciechanover (Israel), Avram Hershko (Israel và Hungary) và Irwin Rose (Hoa Kỳ), phân tách các chất prôtêin trong cơ thể con người, giúp giải thích hệ thống miễn nhiễm.
* 2003: Peter Agre (Hoa Kỳ) và Roderick MacKinnon (Hoa Kỳ), khám phá và  khảo sát các Đường dẫn Nước và Ions trong các tế bào sinh vật.



* 2002: John B. Fenn (Hoa Kỳ), Koichi Tanaka (Nhật Bản) và Kurt Wüthrich (Hoa Kỳ),phát triển các phương pháp phân tích mạnh, phục vụ nghiên cứu những phân tử lớn, phức tạp, trong đó có protein.



* 2001: William Standish Knowles (Hoa Kỳ), Ryoji Noyori (Nhật Bản), nghiên cứu về phản ứng hydro hóa có xúc tác chiral  và K. Barry Sharpless (Hoa Kỳ), ông trình nghiên cứu về phản ứng oxy hóa có xúc tác chiral.

*2000: Alan J. Heeger (Hoa Kỳ), Alan G. MacDiarmid (Hoa Kỳ và New Zealand) và Hideki Shirakawa (Nhật Bản), khám phá và phát triển các polymer dẫn điện.


(Tổng hợp từ internet - đã qua thẩm định)

<< 1 | 2 | 3 | 4